Chuyển đổi số gắn với bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống phục vụ phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu sốBước vào kỷ nguyên số, chuyển đổi số đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, giá trị cốt lõi của chuyển đổi số không chỉ nằm ở việc ứng dụng công nghệ hay số hóa dữ liệu, đồng thời còn ở khả năng tạo lập những không gian phát triển mới cho văn hóa, con người và tri thức. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi lưu giữ kho tàng di sản văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc Việt Nam, theo đó chuyển đổi số đang mở ra cơ hội để biến những giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực nội sinh phục vụ phát triển bền vững.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định rõ phát triển văn hóa và con người vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn và sức mạnh mềm của quốc gia; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đây là định hướng chiến lược để các địa phương, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phát huy lợi thế văn hóa trong bối cảnh mới.
Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (với hơn 14 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số của cả nước), với hàng nghìn lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn và kho tàng ngôn ngữ vô cùng phong phú. Đây là nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt. Tuy nhiên, trước tác động của đô thị hóa, biến đổi khí hậu, di cư lao động và toàn cầu hóa, không ít giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một nếu không có những giải pháp bảo tồn phù hợp.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không thay thế văn hóa truyền thống mà trở thành công cụ giúp văn hóa dân tộc thiểu số được bảo tồn, lan tỏa và tạo ra giá trị mới. Việc số hóa các di sản văn hóa phi vật thể, xây dựng cơ sở dữ liệu số về lễ hội, tiếng nói, chữ viết, trang phục, nhạc cụ, tri thức dân gian hay nghề thủ công truyền thống không chỉ giúp lưu giữ lâu dài, đặc biệt còn tạo điều kiện để công chúng trong và ngoài nước tiếp cận thuận lợi hơn.
Những năm gần đây, nhiều địa phương miền núi đã bước đầu ứng dụng công nghệ số vào bảo tồn văn hóa. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nghệ thuật Xòe Thái, thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái và nhiều lễ hội truyền thống khác của đồng bào các dân tộc thiểu số đã được số hóa thông qua phim tư liệu, dữ liệu hình ảnh, thư viện số, nền tảng trực tuyến và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện. Những cách làm này góp phần đưa di sản vượt ra khỏi phạm vi không gian làng bản để tiếp cận đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
Đặc biệt, giá trị của chuyển đổi số còn thể hiện ở khả năng kết nối văn hóa với thị trường. Trước đây, nhiều sản phẩm thủ công của đồng bào chỉ tiêu thụ trong phạm vi địa phương. Ngày nay, thông qua thương mại điện tử, mạng xã hội và các nền tảng số, sản phẩm dệt thổ cẩm, mây tre đan, bạc truyền thống, trà Shan tuyết, dược liệu hay đặc sản vùng cao, miền núi có thể tiếp cận khách hàng trên phạm vi cả nước và quốc tế. Điều đó không chỉ nâng cao thu nhập cho người dân mà còn tạo động lực để gìn giữ nghề truyền thống.
Và một minh chứng rõ nét là nhiều hợp tác xã và doanh nghiệp khởi nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số đã sử dụng nền tảng số để quảng bá sản phẩm OCOP, kết nối với các sàn thương mại điện tử, xây dựng thương hiệu gắn với câu chuyện văn hóa bản địa. Vì vậy, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở chất lượng, đồng thời còn ở bản sắc văn hóa và tri thức truyền thống được gửi gắm trong từng sản phẩm.
Du lịch văn hóa cộng đồng cũng là lĩnh vực hưởng lợi rõ rệt từ chuyển đổi số. Những bản du lịch, như: Sin Suối Hồ (tỉnh Lai Châu), Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Lô Lô Chải (tỉnh Tuyên Quang), Khuổi Ky (tỉnh Cao Bằng), Mù Cang Chải, Sa Pa (tỉnh Lào Cai) hay nhiều điểm đến khác,… đã tận dụng mạng xã hội, nền tảng đặt phòng trực tuyến, bản đồ số và video quảng bá để tiếp cận du khách. Nhờ đó, hình ảnh bản làng, lễ hội, ẩm thực, nghề truyền thống và đời sống cộng đồng được lan tỏa mạnh mẽ, góp phần đưa văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế địa phương.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa không thể chỉ dừng ở việc đưa dữ liệu lên môi trường mạng. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng hệ sinh thái số lấy cộng đồng làm trung tâm. Đồng bào dân tộc thiểu số cần được trang bị kỹ năng số, kỹ năng truyền thông, kỹ năng kinh doanh trên nền tảng số và khả năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các giá trị văn hóa truyền thống. Chỉ khi cộng đồng trở thành chủ thể sáng tạo, quản lý và hưởng lợi thì chuyển đổi số mới thực sự tạo ra giá trị bền vững.
Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới, tạo ra động lực phát triểnTheo GS.TS. Bế Trung Anh, Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội chuyên trách Trung ương thuộc Đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Đắk Lắk chia sẻ: Số hóa phải đi cùng với bảo tồn tính nguyên gốc của di sản văn hóa dân tộc. Công nghệ không được làm thay đổi bản chất của lễ hội, nghệ thuật trình diễn hay nghề truyền thống, mà cần hỗ trợ việc lưu giữ, nghiên cứu, truyền dạy và quảng bá. Bảo tồn trên môi trường số phải luôn gắn với bảo tồn trong đời sống thực, nơi di sản tiếp tục được cộng đồng thực hành và trao truyền qua các thế hệ.
Tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ trong phát triển văn hóa. Điều này đặt ra yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa, nghệ nhân, thanh niên và doanh nghiệp vùng dân tộc thiểu số có năng lực sử dụng công nghệ số để kể những câu chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ hiện đại, hấp dẫn nhưng vẫn giữ được bản sắc truyền thống.
Đặc biệt, thế hệ trẻ đồng bào dân tộc thiểu số đang trở thành lực lượng tiên phong trong quá trình này. Nhiều bạn trẻ sử dụng nền tảng số để giới thiệu tiếng nói dân tộc, trang phục truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực, lễ hội và cảnh quan quê hương thông qua video ngắn, podcast, triển lãm trực tuyến và các sản phẩm sáng tạo số. Và đây không chỉ là hoạt động quảng bá văn hóa mà còn góp phần xây dựng hình ảnh tích cực về vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tiến trình hội nhập.
Dưới góc nhìn khoa học của các chuyên gia, nhà nghiên cứu cho thấy: Chuyển đổi số và văn hóa không phải là hai lĩnh vực tách biệt mà bổ trợ cho nhau. Công nghệ tạo ra phương thức mới để bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa; ngược lại, văn hóa tạo nên nội dung, bản sắc và sức cạnh tranh cho nền kinh tế số. Khi những giá trị truyền thống được số hóa, kết nối với giáo dục, du lịch, thương mại điện tử và công nghiệp văn hóa, nguồn lực nội sinh sẽ được chuyển hóa thành động lực phát triển thực chất.
Trong kỷ nguyên số, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay trình độ công nghệ mà còn bằng khả năng gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chuyển đổi số chính là chiếc cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa tri thức địa phương với công nghệ, giữa bản làng với thị trường toàn cầu.
Vì vậy, đánh thức nguồn lực nội sinh từ văn hóa dân tộc thiểu số thông qua chuyển đổi số không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa hay ngành công nghệ, mà là yêu cầu của chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Khi mỗi di sản được số hóa, mỗi sản phẩm văn hóa được kết nối với thị trường và mỗi người dân trở thành chủ thể sáng tạo trên không gian số, văn hóa sẽ thực sự trở thành sức mạnh mềm, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững theo đúng tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam./.