Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Kiến trúc chùa Huế góp phần phát triển du lịch ở đất cố đô

Châu Giang - 14:52, 02/03/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Phật giáo tại Huế đã vượt ra khỏi phạm vi một tôn giáo đơn thuần để trở thành một hệ thống văn hóa sâu rộng, khiến Huế được tôn vinh là “Thiền kinh”. Các công trình chùa chiền không chỉ là nơi thờ tự mà còn là những minh chứng sống động cho sự hòa quyện giữa tín ngưỡng, thiết chế chính trị và kiến trúc đỉnh cao trong lịch sử triều Nguyễn. Chùa là một phần rất quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi người dân của xứ Huế. Từ xa xưa, người dân Huế rất coi trọng việc xây dựng chùa cũng như cách thiết trí bố cục kiến trúc cảnh vật xung quanh sao cho gần gũi với thiên nhiên. Hàng trăm ngôi chùa ở Huế đều nằm ở địa thế thoai thoải ở sườn dốc, sườn đồi, sườn núi có cây cao bóng mát cảnh thiên nhiên chứa đựng được cái hồn của đạo Phật tĩnh lặng, an lạc, giải thoát. Chính vì vậy, chùa Huế có được những giá trị nghệ thuật kiến trúc đặc sắc mà chẳng phải nơi nào cũng có thể có được. Bài viết phân tích kiến trúc đặc trưng của chùa Huế là giá trị di sản văn hóa Phật giáo góp phần phát triển du lịch Huế.

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã giữa lòng thiên nhiên với vẻ đẹp thanh tịnh giữa không gian yên bình
Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã giữa lòng thiên nhiên với vẻ đẹp thanh tịnh giữa không gian yên bình

Từ khóa: Chùa xứ Huế; Văn hóa Phật giáo; Kiến trúc chùa Huế; Phát triển du lịch.


1. Lịch sử hình thành của những ngôi chùa trên đất Huế

Lịch sử Phật giáo tại vùng đất Thuận Hóa (tiền thân của Huế) đã bắt nguồn từ rất sớm, chịu ảnh hưởng từ nền văn hóa Champa và Ấn Độ. Tuy nhiên, sự phát triển đỉnh cao của Phật giáo Huế gắn liền với sự mở rộng và phát triển của vùng đất dưới thời các Chúa Nguyễn. Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng đặt chân vào kinh thành, quá trình truyền bá và xây dựng đạo Phật càng được chú trọng và phát triển toàn diện. Đặc biệt, vào thời Nguyễn, Phật giáo nhận được sự bảo trợ mạnh mẽ của triều đình. Các vị vua Nguyễn chủ trương theo đạo Phật, dẫn đến việc xây dựng và phát triển một hệ thống chùa, thiền viện, tịnh xá và tịnh thất đa dạng. Chính sự bảo trợ này đã tạo ra một hệ thống Phật giáo mang tính chính thống cao độ, khác biệt so với các trung tâm Phật giáo khác ở Việt Nam.

Từ rất sớm, Huế được xem là “xứ sở của những ngôi chùa”, chính bởi sự hiện diện một số lượng lớn các ngôi chùa nơi đây. Người Huế khi sinh ra đã sớm tập quen với tiếng chuông chùa, với câu kinh tiếng kệ, một ngày hai buổi công phu sớm chiều. Tiếng chuông âm vang nơi thâm sơn cùng cốc, vọng xuống dòng sông, đi sâu vào lòng mỗi người, xua đuổi mọi tạp niệm. Tiếng chuông chùa trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống người dân Huế. Có lẽ, vì thế, mỗi người, từ sâu xa trong tâm thức, luôn dành khoảng lặng, một cảm niệm với tiếng chuông.

Xứ Huế là nơi tồn tại của rất nhiều ngôi chùa có lịch sử và hành trạng hoàn toàn khác, đấy là quá trình “cải gia vi tự” diễn ra khá phổ biến. Mỗi gian thờ trong kiến trúc nhà người Huế vốn đã là một “Phật đường thu nhỏ”, ở đấy, thiết trí thờ tự với đầy đủ kinh sách, tượng Tam bảo, lư hương, chuông, mõ... và bài vị Tổ tiên. Vào một số thời điểm nhất định thường nhật, gia chủ trở thành “vị sư nơi trần thế” trì tụng kinh kệ, dâng hoa cúng dường. Dần về sau, trước những biến cố lịch sử (loạn lạc, ly tán, không người thừa tự...) hay tâm ý của gia chủ (cầu phúc...), ngôi nhà được cúng dường cho chùa làm thành cơ sở thờ tự. Đây là tiền thân và cũng là nguồn gốc của rất nhiều ngôi chùa Huế.

Lối phối thờ nhiều vị thánh thần dân gian trong điện Phật khá phổ biến ở nhiều chùa Huế, thể hiện tinh thần Phật giáo đại chúng, tam giáo đồng nguyên. Hiện tượng này chấm dứt sau phong trào chấn hưng Phật giáo vào khoảng những thập niên đầu của thế kỷ XX. Vào thời điểm này, nhiều giới luật nghiêm khắc được đặt ra trong giới tăng ni, hệ thống tượng thờ bắt đầu được chuẩn hóa, hệ thống thần thánh dân gian được đưa ra khỏi điện Phật, ngôi chùa chỉ còn là không gian thiêng liêng của Tam bảo. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra không triệt để, vì thế, hiện nay, có thể mục kích cách phối thờ đậm chất dân gian này ở Đông Thuyền, Thuyền Tôn, Quốc Ân hay Chùa Ông... Cũng chính trong phong trào chấn hưng Phật giáo này, năm 1932, An Nam Phật học hội được thành lập, làm tiền đề cho việc hình thành hàng loạt chùa Khuôn hội ở Huế, trên cơ sở của các chùa làng cũ, hoặc xây mới, và trên mẫu hình rất thống nhất với kiến trúc chùa Hội quán Từ Đàm (khuôn Dương Biều, Kim An, Thuận Hóa, Tịnh Bình, Vĩnh Chơn, Thành Nội, Thường Lạc...).

Hình ảnh của những ngôi chùa xứ Huế hiện nay gợi cho mọi người cảm giác an tĩnh, nhu hòa, thoát tục. Toàn bộ tổng thể kiến trúc đều như e ấp, nép mình dưới những tán cây xanh. Đấy là nơi con người có thể đến chiêm bái, tụng kinh niệm Phật, thư thả, chiêm nghiệm, cảm nhận lẽ sống, tìm những giây phút bình yên cho tâm hồn giữa cuộc sống bôn ba, bất trắc.

2. Kiến trúc chùa Huế

Tổ hợp kiến trúc phổ biến của chùa Huế thường bao gồm nhiều đơn nguyên dàn trải trên một mặt bằng nhất định, theo chiều rộng không gian (hoành độ) và ít chú trọng đến chiều cao không gian, hay chiều cao vật lý (tung độ).

Với kiểu kiến trúc này, ngôi chùa thường mang lại cảm giác dung hòa và “ẩn mình” vào thiên nhiên, sự khẳng định trong trục đứng không gian (nếu có), chỉ dừng lại ở các tháp tổ, hoặc phù đồ, với chiều cao cũng rất khiêm tốn, và vẫn không thoát khỏi quan niệm “thiên nhân tương dữ”. Điều này hoàn toàn khác với kiến trúc của những ngôi chùa mới hiện nay, khi chiều cao không gian thường được tận dụng triệt để nhằm nâng tầm vị thế, lẫn quy mô.

Những ngôi chùa Huế truyền thống thường có lối cấu trúc theo kiểu chữ Nhất, chữ Đinh, chữ Công, chữ Khẩu, hay nội công ngoại quốc. Trong đó, kiểu kiến trúc chữ khẩu là phổ biến và ấn định rất nhiều đặc trưng.

Hầu hết, lối vào của những ngôi chùa đều bắt đầu bằng một con đường nhỏ, hoặc là một xóm vắng, len lỏi qua các đồi thông (chùa Từ Hiếu, Thuyền Tôn...); qua những rặng trúc lưa thưa (chùa Trúc Lâm, Tra Am, Hồng Ân, Kim Tiên...); hoặc đơn giản chỉ bước lên một số bậc cấp không quá cao (chùa Từ Đàm, Diệu Đế, Đông Thuyền, Thiền Lâm, Vạn Phước...). Lối chính vào chùa thường đi qua cổng tam quan, không quá đồ sộ, mà thường khiêm tốn, thanh thoát, nhẹ nhàng.

Tam quan chùa Huế thường được sử dụng trong những ngày lễ hội, còn lại hầu hết các chùa vẫn có những lối ngõ bình dị, quen thuộc, ấm áp, đi thẳng vào tăng xá hay tịnh trù. Kiểu nhiều lối vào như thế, về mặt ý nghĩa sâu xa, cũng gợi lên ý niệm về nhiều pháp môn có thể dẫn dắt tín đồ tùy duyên đến với đạo Pháp. Ngay giữa tam quan là trục chính đạo dẫn vào tiền đường và chính điện, ngang qua khoảng sân phía bên ngoài của chùa.

Kiến trúc trên dáng vật liệu nhẹ, tồn tại trong khí hậu ẩm thấp nên ngôi chùa Huế rất dễ hư hỏng. Chính vì thế, hình ảnh và quy mô hiện nay của ngôi chùa Huế, phần lớn đều là kết quả sau cùng của những đợt trùng tu, đại trùng tu, được tiến hành trong thế kỷ XX. Tuy nhiên, dù có tái thiết, thay đổi không gian, hay xây dựng bằng vật liệu hiện đại..., nhưng nhìn chung, chùa Huế vẫn giữ được nét truyền thống, phản ánh những mối quan hệ mật thiết với kiểu kiến trúc cung đình và dân gian xứ Huế, từ nội đến ngoại thất. Ngoài ra, chùa Huế cũng tiếp thu lối kiến trúc cắt mái hai tầng, tạo dáng cổ lâu, làm cho mái chùa có phần thanh thoát, nhẹ nhàng (chùa Tây Thiên, Báo Quốc, Quốc Ân, Diệu Đế...). Bên cạnh đó, một số ngôi chùa khác vẫn giữ nguyên quy cách truyền thống với tầng mái liền, sâu và rộng, không có tiền đường phía trước chính điện (chùa Viên Thông, Quảng Tế, Thiên Hưng...).

Bên cạnh kiểu dạng kiến trúc cổ lâu, nét đặc trưng của mái chùa xứ Huế còn đọng lại ở kiểu kiến trúc trùng thiềm điệp ốc với sự xuất hiện của mái vỏ cua mang chức năng kết nối giữa hai đơn nguyên, hoặc nắm giữ vai trò tiền đường nhằm mở rộng không gian sử dụng.

Trong một không gian mở, vừa có chiều sâu, vừa có chiều cao, nội điện thường được thiết trí ba gian thờ với từng án trong cao ngoài thấp. Án cao nhất ở gian giữa thường tôn trí tượng Phật

Tam thế: A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc. Dưới hàng Tam thế, có thể là tượng tôn giả Ca Diếp và A Nan. Dần về trước là án tôn trí các tượng Dược Sư, Thích Ca đản sanh, Chuẩn Đề; phía hai bên là Phổ Hiền, Văn Thù, Quan Âm, Thế Chí, Địa Tạng hoặc Thập bát La Hán... Ngoài cùng là án kinh, chuông gia trì và mõ. Lúc đầu, các chùa đều thấp, dù cho xây gạch lợp ngói thì bên trong vẫn là kiến trúc sườn nhà với nhiều cột kèo bằng gỗ. Hai đầu có những lối cấu trúc trùng thiềm điệp ốc của chùa Huế. Ở giữa nóc có “bầu hồ lô”, hoặc “hỏa luân xa”.

Ngoài những ngôi chùa có kiểu thức trang trí khá đơn giản trên nền tảng của bộ rường nhà truyền thống, không ít những ngôi chùa ở Huế thể hiện sự đa dạng trong đồ án trang trí, phản ánh rất rõ nét sự dung hợp của tam giáo đồng nguyên, vốn là tinh thần căn cốt của một thời kỳ lịch sử. Sự lấn át của hệ thống hồi văn (chữ Vạn và các biến thể, chữ T, mặt rạn...), hệ đề tài trang trí thực vật (hoa, lá, quả phật thủ...), hệ bát bửu Phật giáo (dấu chân Phật, pháp luân, cái lọng, đuôi cá, hoa sen, tù và, cái táng, nút huyền bí)..., những kiểu thức mang đậm dấu ấn Nho, Lão cũng được thể hiện như đôi rồng trên đầu nóc, hoặc trên những đường quyết.

Ngoài hệ thống trang trí theo kiểu nhất thi nhất họa rất đặc trưng của Huế, nhiều điển tích Phật giáo cũng được thể hiện như một cách giáo dục trực quan nhất đối với tín đồ hoặc người quan sát, chiêm ngưỡng. Trên những bức đố và tường vách, nhiều tranh vẽ với đề tài Thập bát La Hán, những bức thủy mặc đậm chất thiền môn.

Kiến trúc Huế, cho dù tồn tại ở mảng dân gian, cộng đồng hay cung đình, hết thảy đều gặp nhau ở những điểm tương đồng vốn đã định hình thành phong cách, mang đậm dấu ấn vùng miền như: Cột cao, nhỏ; Bộ mái mỏng, nhẹ, thẳng, hơi vuốt lên ở đường quyết hay đầu mái bằng những hồi văn, hoặc mụt mây; Chi tiết trang trí phổ biến ở những mảng chạm nông, chú trọng đến từng tiểu tiết và sự lấn át của điển tích phong kiến.

Các ngôi chùa núi, phần nhiều có kiến trúc, cấu trúc vườn chùa và cảnh trí thiên nhiên không sai khác nhau là mấy. Tất cả đã gần như tương đồng với nhau trong một đại khối tinh thần từ bi, đạo hạnh; cốt cách thiền phong và môi trường thiên nhiên trong lành, đầy cây xanh bóng mát, nhất là sạch sẽ. Chùa nào cũng sạch bóng, yên lặng đã tạo cho ngôi chùa Huế có phong cách trầm lắng, tĩnh mịch, thanh thản.

Dạng kiến trúc truyền thống với mẫu hình nhà rường phổ biến, trong khung cảnh khu vườn với sự quy hoạch đầy ngụ ý đã làm nên nét đặc trưng của chùa Huế. Cố đô Huế trông giống như một khu vườn lớn, trong đó có những khoảng không gian uy nghi, quan cách, lộng lẫy của những cung điện, đền đài, có những khoảng êm đềm, ấm cúng, thân thiết của những nếp nhà vườn, ngôi đình dân dã và cũng có cả những khoảng tĩnh tại, thanh thoát, lặng lẽ của những cảnh chùa. Ngôi chùa đó gắn liền vào tổng thể kiến trúc Huế, hài hòa như chính đạo Phật đã hòa tan vào lòng đời, lòng người xứ Huế. Tìm hiểu về những ngôi chùa Huế cũng chính là tìm về một phần quan trọng làm nên văn hóa xứ Huế.

Trong một sinh cảnh rất đặc trưng, người đến chùa không đơn thuần là tín đồ phật tử trong mục đích hành hương lễ Phật, hoặc tìm kiếm một lời chỉ dẫn từ vị bổn sư mà rất nhiều thành phần khác nhau. Đến với chùa Huế, họ gặp nhau ở điểm chung nhất: cần một không gian yên tĩnh ngập tràn cây xanh, để đắm chìm, hòa mình vào thiên nhiên, tránh đi tiếng ồn của đô thị hiện đại, để chiêm nghiệm và trải nghiệm.

3. Đóng góp của kiến trúc chùa Huế vào phát triển du lịch

Phật giáo Huế đã khẳng định những bước tiến vững chắc và xác lập vị thế quan trọng trong sự phát triển của Huế, hình thành một di sản văn hóa đa dạng và phong phú trong di sản văn hóa Huế. Đó là hệ thống chùa tháp, pháp khí, tượng, ván khắc đồ sộ; tính đa dạng trong hệ cảnh quan, kiến trúc, trang trí, nội thất của những ngôi chùa Huế. Bên cạnh các thực thể kiến trúc chùa chiền, những giá trị trong nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật diễn xướng mang hơi thở của Phật giáo xứ Đàng Trong nói chung và Phật giáo xứ Huế nói riêng, sự đa diện trong sinh hoạt văn hóa thông qua các lễ hội, sinh hoạt của tăng chúng - phật tử, văn hóa ẩm thực chay đặc sắc và độc đáo… phản ánh những ảnh hưởng của giáo lý nhà Phật, được luân chuyển một cách lặng lẽ trong đời sống thường nhật, trong mạch nguồn văn hóa Huế.

Di sản kiến trúc chùa Huế là một nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vô giá, đóng vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển kinh tế của Huế. Huế cần tăng cường sự gắn kết giữa du lịch và văn hóa, lấy văn hóa làm nền tảng để đẩy mạnh phát triển du lịch, đồng thời hoàn thiện và định vị thương hiệu du lịch văn hóa di sản. Kiến trúc chùa Huế, với tính độc đáo về kỹ thuật (trùng thiềm) và chiều sâu về triết lý, là cốt lõi để xây dựng dòng sản phẩm du lịch tâm linh kết hợp kiến trúc. Điều này giúp Huế tạo ra sự khác biệt cạnh tranh rõ rệt so với các trung tâm du lịch văn hóa hay Phật giáo khác trong nước và quốc tế. Các ngôi chùa cổ được bảo tồn không chỉ là di tích mà còn là điểm tham quan hấp dẫn, thú vị để khám phá vẻ đẹp độc đáo của văn hóa Phật giáo trên đất cố đô. Đây là tài sản giúp Huế thu hút khách du lịch đại chúng và phục vụ khách du lịch văn hóa, học thuật.

Tiềm năng khai thác di sản kiến trúc chùa Huế cũng được tập trung vào chiều sâu trải nghiệm. Dựa trên cơ sở di sản sống đã được phân tích, các chương trình du lịch cần được thiết kế mang tính trải nghiệm sâu sắc, bao gồm các hoạt động như tìm hiểu nghệ thuật trang trí kinh kệ, trải nghiệm thiền định, và thưởng thức ẩm thực chay truyền thống.

Bên cạnh đó, giá trị kiến trúc trùng thiềm và ngôn ngữ trang trí cung cấp nền tảng cho việc phát triển các tuyến du lịch học thuật và nghệ thuật. Các tour chuyên đề có thể thu hút các đoàn nghiên cứu, kiến trúc sư, nhà văn hóa, và du khách quan tâm đến nghệ thuật cổ, cung cấp một nguồn khách chất lượng cao. Việc liên kết tham quan chùa chiền với quần thể kiến trúc Cố đô Huế một cách hệ thống sẽ hình thành các tuyến du lịch tổng hợp về triều Nguyễn và tôn giáo, tối đa hóa giá trị di sản.

4. Kết luận

Nhờ tinh thần Phật giáo sâu sắc suốt nhiều thế kỷ, Huế trở thành vùng đất số lượng chùa nhiều và mật độ chùa dày nhất của Việt Nam. Không kể các niệm Phật đường, các chùa khuôn hội, hiện nay ở Huế còn lưu giữ, bảo tồn trên 100 ngôi chùa cổ, trong đó có hàng chục tổ đình, các nghi lễ Phật giáo và hoạt động Phật sự tôn nghiêm. Các tín đồ Phật giáo chiếm 60% dân số toàn tỉnh, trong đó, có 1.035 tu sỹ, 563 tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường…

Trong những năm gần đây, du khách khi đến với Huế không chỉ trải nghiệm di sản văn hóa, trải nghiệm với cộng đồng, mà còn tìm hiểu trải nghiệm thêm về du lịch tâm linh. Việc thăm chùa chiền, tìm hiểu về đạo Phật và trải nghiệm một số hoạt động tu tập, thiền… trong các chùa, hay tham gia các hoạt động, các lễ hội Phật giáo như tuần lễ Phật đản hằng năm làm gia tăng sản phẩm du lịch đã thu hút đông đảo du khách đến với Huế, đem lại những thành công trong sự phát triển kinh tế và văn hóa đất nước. Đồng thời, những hoạt động này đã góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong đời sống sinh hoạt thường ngày và truyền dạy cho thế hệ trẻ ngày càng được biết đến nền văn hóa dân tộc./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Hữu Thông (Chủ biên, 1992). Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế. Thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Hội Nhà văn.

2. Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách. (1993). Danh lam xứ Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hội Nhà văn.

3. Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm. Lịch sử Phật giáo xứ Huế, sđd.

4. Nguyễn Hữu Thái. Cảnh chùa Huế. tham khảo thêm tại: http://daitangkinhvietnam.org/vanhoc-va-nghe-thuat/kientruc-pha-giao/282-cnh-chua-hu-html

 5. Nguyễn Thị Minh Xuân, Nguyễn Ngọc Tùng, Trần Thành Nhân. Kiến trúc chính điện chùa Huế thời Nguyễn. Tạp chí Kiến trúc số 8/2019.

6. Vũ Cường. Vô xứ Huế - chuyến hành hương về đất Phật.

https://phapluat.tuoitrethudo.vn/vo-xu-hue-chuyen-hanhhuong-ve-dat-phat-92970.html, ngày 23/06/2024.

7. Nguyễn Bá Lăng. (1972). Kiến trúc Phật giáo Việt Nam, tập 1. Viện đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn.

8. Hà Xuân Liêm. (2000). Những ngôi chùa Huế. Nxb Thuận Hóa.

9. Chu Quang Trứ. (1998). Văn hóa mỹ thuật Huế. Nxb Thuận Hóa.

10. Thích Hải Ấn. (2016). Những nét kiến trúc chùa Huế.

11. Kỷ yếu hội thảo “Văn hóa phật giáo Việt Nam thống nhất trong đa dạng”. Ban Văn hóa - Ban Nghi lễ Trung ương, Hà Nội, 2-3/7/2016.