Từ khóa: Kinh nghiệm quản lý; Hoạt động tôn giáo; Một số nước châu Á.
1. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của Trung Quốc
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) là một quốc gia có dân số 1,324 tỷ người, diện tích 9.597.000 km2. Là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ Trung Quốc chỉ công nhận năm tôn giáo là: Phật giáo, Đạo giáo, Islam giáo, Công giáo và Tin Lành (Tân giáo). Số lượng tín đồ tôn giáo ở Trung Quốc chỉ chiếm hơn 10% dân số, cụ thể: Phật giáo trên 65 triệu tín đồ, Hồi giáo 21 triệu tín đồ, Công giáo 12 triệu tín đồ, Tin Lành 20 triệu tín đồ,... Từ thời kỳ đổi mới, chính sách tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Trung Quốc có nhiều thay đổi. Chính phủ Trung Quốc đã ban hành quy định pháp luật để quản lý mọi hoạt động tôn giáo. Qua thực tế chính sách tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Trung Quốc có một số điều cần quan tâm.
Từ nhận thức tôn giáo là một thực thể tồn tại lâu dài và không thể phủ nhận nhu cầu về tôn giáo của một bộ phận Nhân dân, định hướng chính sách đối với tôn giáo và công tác tôn giáo, công tác quản lý hoạt động tôn giáo ở Trung Quốc đã nhìn nhận sự tồn tại của tôn giáo và đáp ứng nhu cầu đời sống tôn giáo của một bộ phận Nhân dân.
Chính phủ Trung Quốc xây dựng quy định pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể là năm 1991, ban hành hai văn bản: Biện pháp thực hiện quản lý đăng ký đoàn thể tôn giáo và Biện pháp đăng ký cơ sở hoạt động tôn giáo; năm 1994 ban hành Sắc lệnh quản lý đăng ký các cơ sở hoạt động tôn giáo. Đặc biệt, năm 2004, Chính phủ (Quốc Vụ viện) ban hành Điều lệ Sự vụ tôn giáo, sửa đổi bổ sung năm 2016. Đây là các văn bản pháp luật thể hiện chính sách tôn giáo, thực hiện công tác quản lý và kiểm sóat các hoạt động tôn giáo ở Trung Quốc.
Trong chính sách cũng như quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, Trung Quốc rất chú trọng đến mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo, theo nguyên tắc: các tôn giáo kiên quyết giữ nguyên tắc độc lập, tự chủ. Các tổ chức tôn giáo, địa điểm hoạt động tôn giáo, cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo không chịu sự chi phối của thế lực nước ngoài.
Ngoài quy định về các hoạt động cụ thể về tôn giáo và xã hội của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, luật pháp của Trung Quốc xác định rõ trách nhiệm pháp luật của cá nhân, tổ chức tôn giáo đối với xã hội, đối với Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, luật pháp Trung Quốc quy định rõ những điều nghiêm cấm liên quan đến hoạt động tôn giáo, cùng với đó là các hình thức xử phạt cụ thể về tài chính và hình sự có liên quan.
Trung Quốc là một trong số ít các quốc gia có cơ quan quản lý chuyên ngành về hoạt động tôn giáo - Cục Tôn giáo thuộc Chính phủ (Quốc Vụ viện) là cấp bộ, có hệ thống đến tận cơ sở. Cục Tôn giáo vừa có chức năng tham mưu cho Đảng Cộng sản Trung Quốc về quan điểm, chủ trương đối với tôn giáo, vừa thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, đồng thời, cũng có chức năng xử lý hành chính đối với các vi phạm trong hoạt động tôn giáo.
Công trình kiến trúc Phật giáo Lào2. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là quốc gia Đông Nam Á có dân số 7,5 triệu người, diện tích là 236.800 km2. Lào là quốc gia theo Phật giáo - Phật giáo Nam tông với số tín đồ chiếm khoảng hơn 65% dân số. Ngoài ra, còn có các tôn giáo khác như: Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Baha’i,… Trước đây, vương quốc Lào xác định Phật giáo là quốc đạo. Sau năm 1975, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vẫn coi trọng Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng lớn đối với đất nước, nhưng chấp nhận và duy trì cơ chế đa dạng tôn giáo. Đặc biệt, từ đầu thế kỷ XXI, Lào cũng ban hành quy định pháp luật về tôn giáo và thực hiện quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo. Chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo, công tác quản lý đối với hoạt động tôn giáo ở Lào có những điều cần quan tâm.
Đất nước Lào bước vào thời kỳ đổi mới từ 1986, các đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đều có nội dung về tôn giáo. Đại hội Đảng lần thứ XI, năm 2015, khẳng định chính sách đổi mới đối với tôn giáo ở Lào trên căn bản tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân. Đặc biệt là phát huy vai trò của sư sãi và tu sĩ tôn giáo tham gia các hoạt động vì lợi ích của đất nước và Nhân dân. Đây chính là định hướng chính sách và công tác quản lý hoạt động tôn giáo ở Lào.
Chính phủ Lào đã thể chế hóa quan điểm của Đảng đối với tôn giáo bằng việc ban hành quy định pháp luật về hoạt động tôn giáo qua Sắc lệnh số 92/SL-CP, ngày 05/7/2002 quản lý và bảo vệ hoạt động tôn giáo ở CHDCND Lào. Sau một thời gian thực hiện, Sắc lệnh số 92/SL-CP được thay bằng Sắc lệnh số 135/SL-CP, ngày 16/8/2016. Sắc lệnh số 92/SP-CP (2002) và Sắc lệnh số 135/ SL-CP (2016) là chính sách và khung pháp lý liên quan đến một số hoạt động tôn giáo ở Lào.
Lịch sử, văn hóa nước Lào gắn với Phật giáo (Nam tông) nên Sắc lệnh về quản lý và bảo vệ sự hoạt động tôn giáo không chỉ là những quy định pháp luật mà còn thể hiện chính sách đối với tôn giáo, nhất là đối với Phật giáo, cụ thể, như: đào tạo sư sãi, kể cả chương trình giáo dục phổ thông, việc xây dựng sửa chữa chùa tháp, tổ chức các lễ hội Phật giáo, quan hệ giữa các sư sãi với chính quyền, nhất là các bậc cao tăng với Chính phủ, quan hệ giữa Phật giáo Lào với Phật giáo các nước trong khu vực và quốc tế,…
Vì những đặc điểm riêng về tôn giáo và chính sách tôn giáo, công tác tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo ít mang tính hành chính. Theo Sắc lệnh số 135/SL-CP, hiện nay, ở Lào, hơn 51 đầu công việc trong mối quan hệ giữa tôn giáo với hệ thống chính trị, trong đó chỉ có gần 20 đầu công việc là những thủ tục hành chính liên quan đến chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở, còn lại là các công tác hướng dẫn, giúp đỡ, bảo vệ các hoạt động tôn giáo theo đúng tinh thần của Sắc lệnh số 135/SL-CP có yếu tố “bảo vệ sự hoạt động của tôn giáo”.
3. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của Nhật Bản
Nhật Bản thuộc vùng Đông Bắc Á, có diện tích 377.855 km2, dân số 128,5 triệu người. Thần đạo là tôn giáo truyền thống gắn với lịch sử và văn hóa của Nhật Bản chiếm khoảng 60% dân số. Phật giáo là tôn giáo truyền vào Nhật Bản từ đầu Công nguyên, dung hợp với Thần đạo nên có ảnh hưởng rộng rãi; số lượng tín đồ chiếm khoảng hơn 20% dân số. Ngoài ra, còn các tôn giáo: Công giáo, Tin Lành,... Nhật Bản là quốc gia mở cửa với phương Tây vào giữa thế kỷ XIX nên sớm hình thành nguyên tắc về tự do tôn giáo. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, Thần đạo vẫn chi phối mọi mặt đời sống chính trị, văn hóa, xã hội cho đến chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945). Sự chuyển biến về tôn giáo, chính sách tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai khi Mỹ được Liên hợp quốc giao với tư cách ủy trị Nhật Bản trong thời gian từ 1945 đến 1952. Chính sách tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo ở Nhật Bản có một số điều cần quan tâm.
Để hạn chế vai trò của Thần đạo và thực hiện bình đẳng tôn giáo, Mỹ đã giúp Nhật Bản xây dựng Hiến pháp có nội dung về tự do tôn giáo, đồng thời, ban hành Luật Pháp nhân tôn giáo vào tháng 12/1945 thay cho Luật Đoàn thể năm 1939. Tuy nhiên, vì cơ chế quá thoáng nên dẫn đến việc xuất hiện nhiều tổ chức tôn giáo mang tính chất mê tín dị đoan, cực đoan, tiêu cực được công nhận. Sau sự kiện khủng bố bằng chất độc Sarin của giáo phái Chân lý Aum năm 1995, Nhật Bản điều chỉnh Luật Pháp nhân tôn giáo theo hướng chặt chẽ, mang tính chất quản lý hoạt động tôn giáo.
Luật Pháp nhân tôn giáo quy định rõ, chi tiết về điều kiện của pháp nhân tổ chức tôn giáo, về hồ sơ (trong đó có điều lệ) và thủ tục hành chính để được công nhận pháp nhân tôn giáo, về nhân sự các cấp của pháp nhân tôn giáo, về cơ quan nhà nước công nhận pháp nhân tôn giáo, về các tổ chức tôn giáo ở cấp dưới (pháp nhân trực thuộc), về hợp nhất và giải tán pháp nhân tôn giáo cùng với các vấn đề giải quyết có liên quan đến hợp nhất và giải tán pháp nhân tôn giáo,...
Luật Pháp nhân tôn giáo không chỉ quy định về vấn đề pháp nhân của các tổ chức tôn giáo mà mang tính chất là văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo. Cụ thể, các hoạt động liên quan đến tổ chức tôn giáo như: đăng ký sinh hoạt tôn giáo, địa điểm sinh hoạt tôn giáo, các cơ sở thờ tự, tài sản của tổ chức tôn giáo,... việc các tổ chức tôn giáo phải báo cáo với chính quyền về tình hình hoạt động và tài sản theo định kỳ, kể cả việc khiếu kiện liên quan đến tôn giáo và những quy định về hình phạt vi phạm pháp luật.
Việc công nhận pháp nhân tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo của Nhật Bản được thực hiện qua cơ chế Hội đồng Pháp nhân mang tính đa ngành và theo nhiệm kỳ với hai cấp. Ở Trung ương, Chính phủ Nhật Bản giao cho Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao (với đầu mối là Cục Văn hóa), Bộ Tài chính và một số bộ, ngành khác có liên quan. Ở cấp tỉnh, thành phố với cơ chế đa ngành. Điều đáng quan tâm là thành viên của Hội đồng Pháp nhân được định rõ số lượng, phải là những tín đồ và trí thức tôn giáo.
4. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của Singapore
Singapore là quốc gia Đông Nam Á, mới thành lập năm 1965, diện tích rộng 647 km2, dân số 5,7 triệu người, tín đồ tôn giáo chiếm khoảng 87% dân số. Với đặc thù của “một xã hội di dân” nên người dân Singapore có niềm tin tôn giáo cao vì tôn giáo từng là chỗ dựa về tâm linh trong những hoàn cảnh cụ thể. Singapore được xem là một trong 10 quốc gia có chỉ số đa dạng tôn giáo cao nhất thế giới với nhiều tôn giáo và tổ chức tôn giáo cùng tồn tại. Phật giáo, Đạo lão, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Ki-tô giáo (Tin Lành và Công giáo) là nhóm tôn giáo chính chiếm khoảng 81,4% tổng số tín đồ tôn giáo; còn lại là các tôn giáo khác, như: Do Thái giáo, đạo Shikh, Bái hỏa giáo, đạo Baha’i,... Là một quốc gia đa dạng tôn giáo, tôn giáo gắn với dân tộc nên mặc dù mới được thành lập nhưng Singapore có hệ thống pháp luật đầy đủ và chi tiết trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có tôn giáo. Trong lĩnh vực tôn giáo, Singapore không có quy định pháp luật riêng mà được thể hiện ở Hiến pháp và những văn bản quy định pháp luật có liên quan.
Luật hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thông qua Hiến pháp, cụ thể: tự do tôn giáo và quyền được phổ biến tôn giáo của mỗi cá nhân là những tự do căn bản. Mỗi nhóm, tổ chức tôn giáo đều có quyền xây dựng và duy trì các tổ chức giáo dục cho trẻ em bằng chính ngôn ngữ, tôn giáo của họ, không ai bị bắt buộc phải học hoặc tham gia vào bất cứ nghi lễ, thờ tự tôn giáo nào khác ngoài tôn giáo mà họ theo. Cùng với Hiến pháp, có các quy định pháp luật liên quan đến sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, hoạt động của chức sắc, chức việc như: đăng ký hoạt động của các tổ chức tôn giáo, hoạt động truyền giáo, đào tạo chức sắc, hoạt động an sinh xã hội, hoạt động quốc tế...
Bên cạnh chính sách cởi mở, rộng rãi với tôn giáo, đáp ứng mọi nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân, tổ chức tôn giáo, Chính phủ Singapore cũng rất chặt chẽ và có cơ chế khắt khe xử lý những vi phạm pháp luật. Các quy định pháp luật liên quan xử lý vi phạm như: Luật Hình sự, Luật An ninh nội địa, Luật Về các tổ chức, đoàn thể xã hội,... Đặc biệt, năm 1991, Quốc hội Singapore ban hành Luật Duy trì hòa hợp tôn giáo (Maintenance of Religious Harmony Act). Định rõ bằng pháp luật những việc được làm và không được làm trong hoạt động tôn giáo đã tạo ý thức công dân trong việc tuân thủ pháp luật. Nhờ điều này, Singapore đã thành công trong thực hiện tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, điều chỉnh hoạt động tôn giáo theo pháp luật, phát huy vai trò tích cực của tôn giáo; đồng thời, đã ngăn ngừa xung đột tôn giáo, ngăn chặn xu thế cực đoan của các tôn giáo.
Bên cạnh sự phân định giữa những điều được thực hiện và không được thực hiện trong hoạt động tôn giáo, Chính phủ Singapore ủng hộ sự liên kết giữa các tôn giáo, coi đó là đầu mối trong quan hệ của các tôn giáo với Nhà nước. Nếu như ở các nước châu Âu và Mỹ, sự liên kết tôn giáo, chủ yếu là các hệ phái của Ki-tô giáo theo cơ chế của tổ chức Hội đồng các Giáo hội quốc gia (National Churchs - NC) là thành viên của Hội đồng các Giáo hội thế giới (The World Council of Churches - WCC), thì ở Singapore là sự liên kết của tất cả các tổ chức tôn giáo. Đây là thể hiện tính khoan dung, quan hệ hài hòa giữa các tôn giáo, là thể hiện chính sách tôn giáo của Nhà nước,... và là nét đặc trưng trong mối quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo của các nước trong khu vực và thế giới.
Singapore không có bộ máy chuyên trách làm công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng trực tiếp điều chỉnh hoạt động tôn giáo theo quy định pháp luật có liên quan. Các vấn đề tôn giáo mà Nhà nước phải giải quyết được giao cho Bộ Phát triển cộng đồng, Thanh niên và Thể thao với Vụ Phát triển cộng đồng. Không có cơ quan chuyên trách công tác tôn giáo nhưng Singapore thành lập Hội đồng Tổng thống về hòa hợp tôn giáo. Chức năng của Hội đồng Tổng thống về hòa hợp tôn giáo là xem xét và báo cáo với Bộ trưởng đặc trách về những vấn đề ảnh hưởng đến sự duy trì hòa hợp tôn giáo của Singapore do Quốc hội và Bộ trưởng đặc trách chuyển đến; xem xét đưa ra những kiến nghị đối với những lệnh do Bộ trưởng đặc trách đã gửi đến Hội đồng.
5. Kết luận
Từ tôn giáo và chính sách tôn giáo, công tác tôn giáo, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở một số nước như Trung Quốc, Lào, Nhật Bản, Singapore nhận thấy: tất cả các nước dù thực hiện quản lý hoạt động tôn giáo theo cơ chế nào nhưng điểm đầu tiên và quan trọng là sự tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Điều này trở thành những nguyên tắc của hiến pháp mỗi nước. Mọi người dân đều duy trì các sinh hoạt tôn giáo, thể hiện niềm tin tôn giáo ở gia đình và nơi thờ tự. Sinh hoạt tôn giáo của tín đồ luôn được ưu tiên. Điều đáng quan tâm, dù cơ chế nào, người làm công tác tôn giáo, công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo phải hiểu biết về tôn giáo. Các nước Lào, Nhật Bản, Singapore có tỷ lệ người theo tôn giáo chiếm đa số nên đội ngũ công chức làm công tác tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo có hiểu biết về tôn giáo, vì vậy, công việc trở nên thuận lợi, nhẹ nhàng và hiệu quả.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Sắc luật số 135/CP (2016) Về quản lý và bảo vệ hoạt động tôn giáo tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (Bản dịch của Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước), Hà Nội, 2022.
2. Đỗ Quang Hưng, Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2013.
3. Phạm Hồng Thái (Chủ biên), Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.
4. Nguyễn Cao Thanh, Chính sách tôn giáo ở Trung Quốc, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 1+2/2007.
5. Nguyễn Tuấn Thùy, Pháp nhân tôn giáo ở Nhật Bản, Tạp chí Công tác Tôn giáo số 4/2020.
6. Nguyễn Quỳnh Trâm, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Singapore, Tạp chí Công tác Tôn giáo số 4/2022.
7. Nguyễn Thanh Xuân, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2021.
8. Nguyễn Thanh Xuân, Khái quát về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Lào, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 1+2/2022.
9. Lữ Vân, Chính sách tôn giáo ở Trung Quốc - 100 câu hỏi và đáp, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2014.