Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Lạng Sơn: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số

Phương Thảo - 09:54, 07/10/2026

(DTTG) - Không chỉ đầu tư trường lớp, Lạng Sơn còn tích cực thực hiện chính sách dân tộc trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, từ các bậc học phổ thông, xóa mù chữ đến đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số. Cách làm này cho thấy một hướng tiếp cận quan trọng: muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trước hết phải tạo được cơ hội học tập, sau đó mới mở cánh cửa nghề nghiệp và việc làm.

Học sinh dân tộc thiểu số Trường Cao đẳng Nghề Lạng Sơn thực hành nghề điện tử
Học sinh dân tộc thiểu số Trường Cao đẳng Nghề Lạng Sơn thực hành nghề điện tử

Giai đoạn 2021-2025, thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 1719), tỉnh Lạng Sơn xác định phát triển giáo dục, đào tạo là một trong những nền tảng quan trọng để tạo chuyển biến lâu dài về chất lượng nguồn nhân lực. Trên tinh thần đó, Dự án 5 - Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong Chương trình MTQG 1719 được tỉnh triển khai với nhiều nội dung, từ củng cố hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, xóa mù chữ đến bồi dưỡng kiến thức dân tộc, đào tạo nghề và nâng cao năng lực cho cộng đồng.

Điều đáng ghi nhận trước hết là nguồn lực đã được tập trung khá lớn cho hệ thống giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo báo cáo, đối với Tiểu dự án 1: Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân, tỉnh đã đầu tư cho 85 trường, gồm 6 trường phổ thông dân tộc nội trú, 54 trường phổ thông dân tộc bán trú và 25 trường phổ thông có học sinh ở bán trú. Sáu trường phổ thông dân tộc nội trú THCS và THPT được đầu tư xây dựng tại Bắc Sơn, Đình Lập, Văn Quan, Hữu Lũng, Lộc Bình và Văn Lãng.

Cùng với trường lớp, nhiều hạng mục phục vụ trực tiếp việc dạy và học, ăn ở của học sinh cũng được đầu tư. Các địa phương đã xây dựng 59/70 phòng công vụ giáo viên, đạt 84% kế hoạch; 95/300 phòng ở cho học sinh; 78/108 phòng quản lý học sinh; 40/90 nhà ăn, nhà bếp; 31/85 nhà kho chứa lương thực; 83/94 công trình vệ sinh, nước sạch. Đáng chú ý, số phòng học thông thường và phòng học bộ môn đã đạt 212/130 phòng, vượt 63% kế hoạch được giao.

Những con số này cho thấy nhu cầu đầu tư giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là việc có trường, lớp, mà còn là bảo đảm các điều kiện để học sinh có thể ở lại trường, học tập và sinh hoạt ổn định. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với học sinh ở những địa bàn khó khăn, nơi khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế có thể trở thành rào cản đối với việc đến trường.

Lớp học xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Hòa Cư (tháng 4/2025)
Lớp học xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Hòa Cư (tháng 4/2025)

Bên cạnh đầu tư cơ sở vật chất, Lạng Sơn chú trọng nâng chất lượng đội ngũ giáo viên và hỗ trợ người học. Tỉnh đã cấp miễn phí 6.671 bộ tài liệu cho các trường phổ thông dân tộc bán trú và trường phổ thông có học sinh bán trú, 2.172 bộ tài liệu cho các trường phổ thông dân tộc nội trú; tổ chức 71 lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên trường phổ thông dân tộc bán trú và trường có học sinh bán trú, cùng 71 lớp bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú.

Công tác xóa mù chữ cũng được triển khai với 121 lớp, thu hút 3.175 người tham gia; 417 trang thiết bị được mua sắm phục vụ công tác này. Đây là phần việc có ý nghĩa không chỉ về giáo dục mà còn về khả năng tiếp cận thông tin, chính sách và cơ hội phát triển của người dân. Khi một người biết đọc, biết viết và sử dụng được tiếng phổ thông, khả năng tiếp cận tri thức, dịch vụ công và thị trường lao động cũng được mở rộng.

Một điểm sáng nữa ở Lạng Sơn là kết quả thực hiện Tiểu dự án 2: Bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh đã tổ chức 18 lớp bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho 1.241 học viên, 5 lớp đào tạo tiếng dân tộc với 343 học viên; đồng thời tổ chức 91 lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ triển khai Chương trình các cấp với 12.258 người tham gia. Những hoạt động này góp phần nâng cao năng lực thực hiện chính sách từ cơ sở, bởi một chương trình dù được thiết kế tốt đến đâu cũng khó đạt hiệu quả nếu đội ngũ cán bộ thực hiện thiếu kiến thức, kỹ năng và khả năng tổ chức.

Tuy nhiên, kết quả thực hiện Dự án 5 cũng cho thấy trong 9 nhóm chỉ tiêu của Tiểu dự án 1, chỉ có 01 chỉ tiêu (phòng học thông thường và phòng học bộ môn) bảo đảm hoàn thành và vượt kế hoạch được giao; 03 chỉ tiêu (phòng công vụ giáo viên; phòng quản lý học sinh; công trình vệ sinh, nước sạch) có tỷ lệ hoàn thành đạt trên 60% kế hoạch và 05 chỉ tiêu (phòng ở học sinh; nhà ăn, nhà bếp; kho chứa lương thực; nhà sinh hoạt, giáo dục văn hóa dân tộc; công trình phụ trợ khác) có tỷ lệ hoàn thành dưới 50% so với kế hoạch, do các chỉ tiêu không còn phù hợp với nhu cầu thực tế của tỉnh, trong khi nhu cầu phòng học thông thường và phòng học bộ môn lớn; số lượng đối tượng tham gia học xóa mù chữ ít, bởi các đối tượng xoá mù chữ chủ yếu là người cao tuổi.

Lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng triển khai Chương trình MTQG 1719 tại xã Lộc Bình
Lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng triển khai Chương trình MTQG 1719 tại xã Lộc Bình

Bài toán tương tự cũng xuất hiện với Tiểu dự án 3: Dự án phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tỉnh Lạng Sơn đã triển khai 31 mô hình đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, mở 257 lớp đào tạo nghề cho 9.138 người dân tộc thiểu số; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 4.200 lượt người; tổ chức 90 cuộc tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp, khởi nghiệp, học nghề, việc làm và các dịch vụ hỗ trợ việc làm, đi làm việc ở nước ngoài cho 11.072 lượt người. 04 lao động qua đào tạo được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài; 6 công trình tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được hỗ trợ sửa chữa. Tuy vậy, kinh phí giải ngân Tiểu dự án 3 mới chỉ ước đạt 25% kế hoạch vốn cả giai đoạn; đối tượng học nghề có sự trùng lặp với các chương trình mục tiêu quốc gia khác, một bộ phận lao động nông thôn có xu hướng dịch chuyển đến các tỉnh khác để làm việc, khiến số người đăng ký học nghề tại địa phương không cao. Điều đó đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh chính sách đào tạo theo nhu cầu thực tế của người lao động và thị trường lao động, thay vì chỉ chú trọng đến chỉ tiêu số lượng đào tạo.

Nhìn tổng thể, kết quả thực hiện Dự án 5 đã góp phần tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển lĩnh vực giáo dục và đào tạo của tỉnh Lạng Sơn. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 317 trường đạt chuẩn quốc gia, vượt chỉ tiêu 17 trường; mô hình trường học hạnh phúc được triển khai với tỷ lệ 100%; 100% lớp học được xây dựng kiên cố; tỷ lệ chỗ ở cho học sinh dân tộc nội trú đạt 100%. Tỷ lệ xã đạt phổ cập giáo dục THCS mức độ 3 đạt 97,5%; trẻ em 5 tuổi đến trường đạt trên 99,90%, học sinh tiểu học đến trường đạt 100%, học sinh THCS đạt 99,9%; người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông đạt 98%. Đặc biệt, hơn 90 nghìn lao động đã được đào tạo, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh lên 65%. Giáo dục đào tạo đang dần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ hơn với phát triển nguồn nhân lực và sinh kế ở tỉnh Lạng Sơn.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở xứ Lạng là một hành trình liên tục, trong đó mỗi học sinh được đến trường, mỗi người trưởng thành được học nghề, mỗi lao động cóthêm cơ hội việc làm và mỗi cán bộ cơ sở được nâng cao năng lực đều là một mắt xích của quá trình phát triển. Dự án 5 đang đặt những viên gạch quan trọng cho hành trình đó, để từng bước biến nguồn lực con người thành động lực phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Lạng Sơn.