Lê là cây trồng mang lại thu nhập cao cho đồng bào dân tộc thiểu số xã Lùng Phìn, tỉnh Lào CaiTừ những mô hình hiệu quả
Ở thôn Xà Ván, Sử Mần Khang, xã Lùng Phình, anh Vàng Seo Chần, dân tộc Mông đã mạnh dạn thay đổi tư duy. Năm 2023-2024, thay vì trồng ngô, lúa trên toàn bộ diện tích, gia đình anh chuyển sang trồng cây ăn quả. Sau quá trình học hỏi, anh hiện có 1 ha mận Tả Van và 130 gốc lê.
Mô hình này đã mang lại hiệu quả kinh tế khác biệt rõ rệt. Theo tính toán của gia đình anh Chần, nếu trồng ngô, lúa, 1 ha chỉ cho thu nhập khoảng 20 triệu đồng; trong khi cây mận có thể mang lại 60-70 triệu đồng, thậm chí cao hơn. Hướng đi này của anh Chần đã tạo niềm tin để người dân trong vùng mạnh dạn chuyển đổi sản xuất. Đến nay, các thôn vùng cao của Lùng Phình đã phát triển hơn 200 ha cây ăn quả, trong đó khoảng 180 ha đã cho thu hoạch. Mỗi vụ, vùng cây ăn quả mang lại nguồn thu gần 2 tỷ đồng cho người dân.
Ở thôn Làng Câu, xã Tân Hợp, gia đình anh Bàn Văn Minh, dân tộc Dao có gần 60 ha quế. Theo chia sẻ của anh, mỗi ha quế hiện có thể đạt giá trị khoảng 1 tỷ đồng khi đến kỳ khai thác. Bước vào vụ thu hoạch, hàng loạt công việc từ khai thác, bóc vỏ, sơ chế đến vận chuyển đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho gia đình và người dân xung quanh. Có thời điểm gia đình anh Minh phải thuê gần 20 lao động với mức công từ 250.000 đồng/người/ngày. Nhờ quế mà hơn 80% số hộ trong thôn đã xây được nhà ở kiên cố, nhiều căn có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên.
Ở Trấn Yên, nghề trồng dâu nuôi tằm đang tiếp tục tạo sinh kế cho người dân. Tại Mường Khương, những vùng quýt, hồng giòn tạo nên sản phẩm đặc trưng của vùng cao biên giới. Xã Bảo Thắng phát triển vùng na; xã Y Tý phát triển sâm và cà chua… Mỗi địa phương đang tìm cách khai thác lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng và kinh nghiệm sản xuất của cộng đồng để hình thành những vùng nông sản có giá trị riêng, tạo sinh kế ổn định, bền vững cho người dân.
Anh Bàn Văn Minh, dân tộc Dao ở thôn Làng Câu, xã Tân Hợp có gần 60 ha quếPhát triển các vùng sản xuất hàng hóa
Lào Cai có diện tích tự nhiên khoảng 1,325 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 87,5%. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với đặc điểm sinh thái của từng vùng. Những năm qua, tỉnh đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô tương đối lớn như, vùng chè 16.082 ha, dược liệu 6.555 ha, dâu tằm 1.535 ha, cây ăn quả 25.590 ha. Các sản phẩm như chè, quế, dược liệu từng bước trở thành những ngành hàng tạo giá trị gia tăng cho nông nghiệp địa phương.
Nhìn từ hiệu quả các mô hình trên nói riêng và kết quả phát triển sản xuất nông nghiệp của toàn tỉnh nói chung đã cho thấy lĩnh vực này góp phần trực tiếp vào công tác giảm nghèo và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 6,99%/năm, vượt chỉ tiêu Chính phủ giao (giảm 6%/năm). Cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn 9,6%; thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt 38,5 triệu đồng/người/năm.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, Lào Cai đặt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn và phát triển chuỗi giá trị; khai thác lợi thế của từng vùng để phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc hữu. Giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất trồng trọt đạt 115 triệu đồng; giá trị sản xuất các ngành hàng chủ lực chiếm trên 70% tổng giá trị ngành nông nghiệp. Thu nhập của người dân nông thôn phấn đấu tăng khoảng 45% so với năm 2025.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Lào Cai tiếp tục tập trung vào những ngành hàng có lợi thế. Với cây chè, tỉnh định hướng đến năm 2030, duy trì khoảng 15.800 ha, tăng cường áp dụng VietGAP, sản xuất hữu cơ, cải tạo và thâm canh để nâng năng suất lên 10-15 tấn/ha/năm. Đối với vùng chè cổ thụ, chè vùng cao, hướng đi được xác định là kết hợp bảo tồn giống chè địa phương với khoa học kỹ thuật, chế biến và xây dựng thương hiệu.
Cây ăn quả ôn đới được định hướng duy trì, cải tạo và phát triển lên khoảng 6.050 ha vào năm 2030; cây chuối khoảng 3.000 ha; dứa 3.000 ha; cây ăn quả có múi 7.500 ha. Vùng dâu tằm được quy hoạch phát triển trên 2.000 ha, gắn với các cơ sở chế biến. Dược liệu cũng được tổ chức theo hướng hình thành vùng sản xuất tập trung, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và du lịch, với mục tiêu diện tích khoảng 7.100 ha vào năm 2030.
Một trong những hướng đi đáng chú ý của Lào Cai là phát triển nông nghiệp gắn với du lịch. Những sản phẩm như mận Tam Hoa, chè Shan tuyết, bưởi Đại Minh, cam sành Lục Yên, dược liệu, rau, hoa, quế, măng tre... tập trung chủ yếu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đều được đặt trong mối liên kết giữa sản xuất, chế biến, thương mại và du lịch. Từ đây có thể hình thành những sản phẩm du lịch trải nghiệm như “Một ngày làm nông dân” tại vùng chè, dược liệu; đưa du khách đến các vùng sản xuất để trải nghiệm quy trình canh tác, thu hoạch và chế biến nông sản. Cách làm này tạo thêm giá trị cho sản phẩm, đồng thời đưa văn hóa sản xuất và tri thức các dân tộc thiểu số trở thành một phần của kinh tế du lịch.
Tỉnh cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, xây dựng thương hiệu cho tối thiểu 20 sản phẩm nông sản chủ lực, gắn với chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận; 100% sản phẩm OCOP được xây dựng bộ nhận diện thương hiệu và ứng dụng truy xuất nguồn gốc điện tử bằng QR code. Những chủ trương này phù hợp với định hướng của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ 2026-2030. Chương trình xác định phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp để nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp chênh lệch phát triển, trong đó chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Du khách trải nghiệm nghề trồng dâu nuôi tằm ở Trấn YênVấn đề có ý nghĩa quyết định đối với vùng cao là nâng cao thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số. Mục tiêu của tỉnh đến năm 2030 là đưa thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn đạt 56 triệu đồng/người/năm. Đồng thời, khuyến khích chuyển dịch lao động từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn như chế biến nông sản, dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao và du lịch nông thôn.
Điều này cho thấy bài toán phát triển nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải giúp người dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đây chính là cách tiếp cận cần thiết đối với vùng núi và nông dân người dân tộc thiểu số, đó là không chạy theo diện tích, mà tập trung vào nâng cao hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị đất đai. Các ngành hàng chủ lực như chè, cây ăn quả, dược liệu, dâu tằm, quế, măng... được kỳ vọng sẽ tạo ra giá trị kinh tế cao, giúp tỉnh đạt mục tiêu giảm hộ nghèo đa chiều bình quân 2,5-3%/năm và đến năm 2030, cơ bản không còn hộ nghèo.
Để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đó, vấn đề quan trọng là nguồn lực từ Chương trình Mục tiêu quốc gia cần được tập trung vào phát triển sản xuất ở vùng cao, như: đầu tư các công trình thủy lợi, giao thông kết nối vùng nguyên liệu, vốn, giống và kỹ thuật, chế biến, thị trường, chuyển đổi số... Khi những mắt xích này được kết nối, nông nghiệp trở thành sinh kế có tương lai, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi của tỉnh mới có được nền tảng vững chắc để phát triển.