Sau lễ cúng dân làng tổ chức liên hoan ngay giữa bảnMỗi nhóm người Hà Nhì ở các địa phương khác nhau tổ chức nghi lễ với những sắc thái riêng, nhưng cùng hướng tới mục đích chung là bảo vệ bản làng khỏi các thế lực xấu và đảm bảo an toàn, no đủ cho dân bản.
Ở Bát Xát (Lào Cai), người Hà Nhì Đen coi trọng việc trấn giữ bản qua các biểu tượng tâm linh. Họ treo bộ da gà trống nguyên lông trên cột gỗ và dùng gan, mật chó làm lễ vật cúng thần giúp người dân tin rằng tà ma không thể xâm nhập. Người Hà Nhì Hoa ở Mường Nhé (Điện Biên) tập trung dựng cổng bản, trang trí bằng vật dụng, vũ khí, cúng chó và đặt các vật tượng trưng sinh sản để nhấn mạnh sự bảo hộ của thần linh và sự thịnh vượng của cộng đồng. Ở Sìn Hồ (Lai Châu), lễ dựng cổng bản, treo các con vật, công cụ gắn với đời sống sản xuất lên cổng để biểu thị quyền kiểm soát, giữ gìn bản làng và mùa màng.
Trong 3 ngày diễn ra lễ cúng, dân bản không được ra ngoài, người ở nơi khác không được vào bản, họ căng dây cấm ở các lối ra vào, nghiêm cấm các hành vi xâm phạm rừng và cả việc săn bắt hay lấy củi khô nên lễ này còn có tên gọi khác là lễ cúng cấm bản. Việc kiêng kỵ thể hiện lòng thành kính, tôn trọng sự tôn nghiêm của chốn linh thiêng. Lễ cúng cấm bản được tổ chức tại khu đất ngay đầu bản. Vật tế trong lễ cúng bắt buộc phải có một con lợn, một con gà và trên mâm cúng cũng bao giờ cũng có xôi màu vàng làm từ gạo nếp.
Dù hình thức khác nhau, tất cả nghi lễ đều hướng tới việc tạo dựng niềm tin rằng bản làng được thần linh bảo vệ, từ đó củng cố sự đoàn kết cộng đồng, giải tỏa nỗi lo âu trước thiên nhiên, gửi gắm hy vọng về một cuộc sống an lành, sức khỏe, may mắn và mùa màng bội thu. Khi nghi lễ hoàn tất, mỗi thành viên trong bản đều ý thức được trách nhiệm của mình, tuân thủ luật tục và duy trì trật tự chung, giúp cộng đồng ổn định và sống hài hòa với nhau.
Thầy cúng chính đang chuẩn bị mâm lễ để cúngĐặc biệt, lễ cúng cấm bản là dịp để truyền niềm tin và tri thức văn hóa qua các thế hệ. Trẻ em theo người lớn tham dự, chứng kiến vai trò của thầy cúng, trưởng bản, và trải nghiệm cách mà cộng đồng cùng nhau thực hiện các nghi thức. Qua đó, niềm tin vào thần linh, luật tục và giá trị cộng đồng được tiếp nhận một cách trực tiếp. Sau khi lễ cúng kết thúc, cộng đồng hòa vào các hoạt động sinh hoạt, văn hóa và chia sẻ lương thực, song ý nghĩa tâm linh vẫn là sự thành tâm, lòng biết ơn, sự gắn kết cộng đồng và niềm tin vào may mắn, bình an. Người Hà Nhì tin rằng bản làng đã được thần linh nhận diện, bảo vệ và vận hành theo trật tự thiêng liêng. Chính niềm tin này giúp họ yên tâm sản xuất, gắn bó với bản làng, duy trì các giá trị văn hóa truyền thống và thích ứng bền bỉ với môi trường núi cao khắc nghiệt.
Lễ cúng bản còn là dịp để lãnh đạo địa phương cùng cộng đồng bảo tồn văn hóa. Chính quyền địa phương luôn khuyến khích thế hệ trẻ tham gia nghi lễ, tạo điều kiện để các giá trị văn hóa, tín ngưỡng đặc trưng của người Hà Nhì được duy trì và truyền lại cho thế hệ trẻ, đồng thời ghi nhận nghi lễ Gạ Ma Thú trong danh sách di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc này vừa bảo vệ nghi lễ khỏi mai một, vừa giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc niềm tin tâm linh và giá trị văn hóa cộng đồng.
Lễ cúng cấm bản của người Hà Nhì không chỉ là nghi lễ cầu an mà còn là biểu hiện sinh động của niềm tin tâm linh, góp phần duy trì trật tự xã hội, hài hòa mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống. Niềm tin được hun đúc từ nghi lễ này trở thành sức mạnh tinh thần, giúp cộng đồng vượt qua khó khăn, an tâm lao động và hướng tới những bình an, may mắn trong cuộc sống.