Bài viết phân tích hệ thống quan điểm của Đảng, những kết quả đạt được trong thực tiễn, cùng nhu cầu cấp bách tiếp tục phát triển mô hình giáo dục chuyên biệt, nhiều ưu việt này tại vùng đồng bào DTTS&MN trong tình hình mới.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng đồng bào DTTS&MN chiếm ¾ diện tích cả nước nhưng đang là địa bàn có chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, đội ngũ cán bộ người DTTS còn nhiều hạn chế. Phát triển giáo dục và đào tạo (GDĐT) vùng đồng bào DTTS&MN luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là cơ sở quan trọng để thực hiện chính sách “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”; là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt nhằm phát triển con người; là giải pháp chiến lược để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các DTTS.
Ra đời từ năm 1957, mô hình trường PTDTNT là chính sách dân tộc đặc thù của Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu công bằng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ cho vùng đồng bào DTTS&MN. Từ 01/7/2025, Việt Nam chuyển sang thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tại 248 xã biên giới, mô hình tương tự trường PTDTNT đang được Đảng, Nhà nước chỉ đạo tập trung đầu tư đã chứng minh được hiệu quả và nhu cầu cần thiết phải phát huy tính ưu việt của mô hình này. Bài viết này tập trung phân tích quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với trường PTDTNT từ thời điểm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay.
2. ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRƯỜNG PTDTNT
Ngày 27/11/1989, 3 năm sau khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi (Nghị quyết số 22-NQ/TW). Lúc bấy giờ, Bộ Chính trị nhận định, miền núi là nơi sinh sống lâu đời của phần lớn các DTTS nhưng trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn rất thấp, “tỷ lệ số người mù chữ và thất học còn lớn”, nên yêu cầu: “Đổi mới chính sách giáo dục, đào tạo”, “mở rộng và củng cố các trường PTDTNT”.
Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và 13 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, Hội nghị lần thứ Bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc. Trong Nghị quyết, Ban Chấp hành Trung ương đánh giá: “hệ thống trường PTDTNT được hình thành từ Trung ương đến tỉnh, huyện, cụm xã”, song “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp”. Từ đó, chỉ đạo nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách là: “Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và chương trình giáo dục miền núi, nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường PTDTNT các cấp”.
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết xác định quan điểm chỉ đạo: “Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng DTTS, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách”.
Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW (khóa IX), ngày 30/10/2019, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 65-KL/TW về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới”. Trong 8 nhiệm vụ và giải pháp của Kết luận, một lần nữa đề ra nhiệm vụ, giải pháp: “Nâng cao chất lượng và mở rộng hệ thống các trường PTDTNT, bán trú; hỗ trợ việc ăn, ở cho học sinh (HS), sinh viên vùng địa bàn đặc biệt khó khăn…”.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong 03 đột phá chiến lược. Giáo dục dân tộc được quan tâm đặc biệt nhằm đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn đời sống ở vùng đồng bào DTTS&MN, thông qua các nhiệm vụ: “giảm tỷ lệ mù chữ, bỏ học ở miền núi”. Mục tiêu nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phẩm chất cần thiết cho người DTTS để chuẩn bị cho việc tham gia vào thị trường lao động; phát hiện, nuôi dưỡng và phát huy tài năng, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng DTTS&MN nói riêng, đất nước nói chung.
Trên quan điểm đó của Đảng, Khoản 1 Điều 61 Luật Giáo dục quy định: “Nhà nước thành lập trường PTDTNT, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học cho người học là người DTTS, người học thuộc gia đình định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”. Các chính sách ưu tiên phát triển loại hình trường PTDTNT trong những năm gần đây là Nghị định số 84/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục, Nghị định số 66/2025/NĐ-CP. Theo các văn bản này, học sinh (HS) trường PTDTNT được miễn học phí, được hưởng học bổng bằng 80% mức lương tối thiểu chung/HS/tháng và được hưởng 12 tháng/năm; hưởng các chế độ hỗ trợ trang cấp hiện vật, học phẩm, sách giáo khoa, tiền tàu xe, tiền điện nước, bảo hiểm y tế, tiền tổ chức tết nguyên đán, tết dân tộc... Trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025 có Dự án 5: Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, với Tiểu dự án 1: Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường PTDTNT, trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT), trường phổ thông có HS ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào DTTS cho thấy vai trò quan trọng của loại hình trường chuyên biệt này trong hệ thống giáo dục quốc dân ở vùng DTTS&MN.
3. MÔ HÌNH TRƯỜNG PTDTNT TRONG THỰC TIỄN
Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT, HS trường PTDTNT được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết để ăn học, được tổ chức nuôi dạy và sống nội trú ở trường trong quá trình học tập. Hệ thống trường PTDTNT gồm: Trường PTDTNT THCS; Trường PTDTNT THPT; Trường PTDTNT THCS và THPT.
Trước đây, Trường PTDTNT THCS do UBND tỉnh quyết định thành lập, UBND huyện quản lý. Trường PTDTNT THPT, Trường PTDTNT có cấp học cao nhất là THPT do UBND tỉnh quyết định thành lập, Sở GDĐT quản lý. Sở GDĐT phối hợp với UBND cấp huyện xây dựng nội dung phối hợp quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục liên quan đến trường PTDTNT THCS và THPT.
Các trường PTDTNT có 05 nhiệm vụ: (i) Chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý HS dân tộc nội trú, đảm bảo các điều kiện để HS dân tộc nội trú được học tập, ăn, ở và sinh hoạt an toàn tại trường; (ii) Tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù phù hợp với HS dân tộc nội trú; (iii) Giáo dục HS về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam, ý thức tham gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào DTTS&MN, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (iv) Giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề truyền thống phù hợp với năng lực, phẩm chất của HS, điều kiện và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; (v) Theo dõi, thống kê số lượng HS, đánh giá hiệu quả giáo dục hằng năm và theo từng giai đoạn để xây dựng các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của trường.
Mô hình giáo dục này có ưu điểm: (i) Tạo điều kiện học tập công bằng trong tiếp cận giáo dục cho HS DTTS ở vùng khó khăn. (ii) HS ở vùng sâu, vùng xa được tuyển chọn và đưa về học tại các trường nội trú có điều kiện học tập tốt hơn trong môi trường sư phạm ổn định, kỷ luật. (iii) Được miễn giảm học phí, được hỗ trợ chi phí ăn, ở, học tập sẽ làm giảm gánh nặng tài chính cho gia đình. (iv) Ngoài việc dạy văn hóa, các trường còn tổ chức nhiều hoạt động nội trú, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp, dạy nghề... góp phần phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực cho HS.
Theo số liệu của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cả nước có 315 trường PTDTNT, với 101.847 HS. Ngoài ra có 02 trường trực thuộc Bộ GDĐT (Hữu nghị 80, Hữu nghị T78) và 01 trường trực thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo (PT Vùng cao Việt Bắc).
HS nội trú được hưởng các chính sách của Nhà nước trung bình khoảng 23 triệu đồng/em/năm. Với việc được “3 tập trung” (ăn tập trung, ở tập trung, quản lý tập trung) giúp các em có môi trường sống “6 hơn” ở nhà: ăn ngon hơn, ở tốt hơn, học tập tốt hơn, vui hơn, an toàn hơn và kỹ năng sống tốt hơn... Từ đó, “tỷ lệ tốt nghiệp THPT của HS các trường PTDTNT những năm gần đây đều tăng, một số trường PTDTNT tỉnh có tỷ lệ tốt nghiệp luôn giữ ở mức cao 100%; trên 60% HS thi đỗ thẳng vào đại học, cao đẳng, khoảng 13% vào cử tuyển và dự bị đại học, khoảng trên 25% vào trung cấp, dạy nghề”. Các trường PTDTNT đã “khẳng định được vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, là nền móng để đào tạo những cán bộ chủ chốt tại các địa phương và từng bước khẳng định vị thế hàng đầu về chất lượng giáo dục ở vùng DTTS&MN” (Trung tâm Nghiên cứu giáo dục Công bằng và Hòa nhập, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2025).
Từ 01/7/2025, chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khu vực biên giới đất liền nước ta có 248 xã, phường thuộc 22 tỉnh. Tại các xã biên giới đất liền hiện có “956 trường phổ thông với quy mô 625.255 HS. Tổng số HS có nhu cầu nội trú, bán trú theo thống kê sơ bộ là 332.019 HS. Mới có gần 59.000 HS đang học tại 22 trường PTDTNT và 160 trường PTDTBT. Như vậy, còn khoảng hơn 273.000 HS có nhu cầu nhưng chưa được học tại các trường nội trú, bán trú mà đang học tại các trường phổ thông”. Đi liền với nhu cầu học nội trú, bán trú cao còn là khoảng cách từ nhà đến trường của HS DTTS vùng biên giới theo các bậc tiểu học, THCS, THPT lần lượt là 2,6 km, 4,7km và 17,9 km, cao hơn mức chung của 53 DTTS. HS dân tộc Ơ Đu và Rơ Măm đi học xa nhất, với khoảng cách từ nhà đến trường THPT tương ứng là 49,7 km và 43,9 km. Khoảng cách từ nhà đến trường quá xa đã hạn chế HS DTTS tiếp cận các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục công lập (Kết quả Điều tra 53 DTTS lần thứ III năm 2024).
Mô hình trường PTDTNT với những ưu việt đã được chứng minh qua gần 70 năm hình thành và phát triển là một trong những căn cứ tham chiếu để ngày 18/7/2025, Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 81-TB/TW thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng các trường phổ thông liên cấp tiểu học và THCS tại 248 xã biên giới đất liền. Bộ Chính trị yêu cầu coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách dân tộc nhằm nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực, tạo nguồn cán bộ là người dân tộc địa phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào vùng biên giới, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh. Theo yêu cầu của Bộ Chính trị, trước mắt, thí điểm đầu tư hoàn thành xây mới hoặc cải tạo 100 trường trong năm 2025 (chậm nhất là đến thời điểm khai giảng năm học sau). Các trường này sẽ là hình mẫu để sau đó tiếp tục triển khai diện rộng, hoàn thành mục tiêu đầu tư xây dựng 248 trường trong 2-3 năm tới.
Chủ trương của Bộ Chính trị là đúng đắn, kịp thời, nhân văn và chiến lược, tiếp tục thể hiện sự quan tâm to lớn của Đảng đối với sự nghiệp GDĐT ở vùng đồng bào DTTS&MN. Sau sáp nhập xã, diện tích xã biên giới rộng gấp 2-3 lần trở lên so với trước. Nếu dồn về học tại trung tâm xã thì HS tiểu học ở những xã sáp nhập phải đi học xa hơn, đặt ra yêu cầu cần giải quyết nhanh, hiệu quả bài toán giảm khoảng cách tới trường cho HS. Mô hình trường liên cấp ở xã biên giới đất liền được xác định là kết hợp giữa nội trú và bán trú tùy điều kiện cụ thể. Bên cạnh đó, cấp huyện đã bỏ nên cũng cần thống nhất mô hình quản lý mới đối với các trường PTDTNT trước đây phân cấp cho huyện quản lý.
Xây trường phổ thông liên cấp tại xã biên giới là mô hình mới, đối tượng học là HS DTTS trên địa bàn và cả HS người Kinh. Đó là bước đi bài bản từ sớm, từ xa phục vụ công tác phát triển nguồn nhân lực người DTTS. Học sinh DTTS ngay từ bậc tiểu học đã có cơ hội tiếp cận với mô hình giáo dục ưu việt sẽ có cơ hội tăng tỷ lệ đi học đúng độ tuổi, đúng tuyến. Học sinh THCS, THPT không phải đi bộ nhiều km đến trường, hoặc khó khăn chọn lựa giữa việc tiếp tục đi học hay bỏ học để ở nhà phụ giúp cha mẹ làm việc, từ đó giảm thiểu tình trạng bỏ học, tảo hôn. Được đầu tư học hành bài bản, đầy đủ từ nhỏ, lớn lên, các em sẽ có tri thức, có cơ hội việc làm tốt hơn, ngoài nuôi sống bản thân còn có khả năng giúp gia đình và cộng đồng cùng phát triển.
4. KẾT LUẬN
Lịch sử đã chứng minh một dân tộc muốn đứng vững, hội nhập và vươn lên luôn phải bắt đầu từ con người, nhưng con người chỉ có thể mạnh mẽ, sáng tạo, có bản lĩnh khi được trang bị tri thức, đạo đức và kỹ năng thông qua giáo dục. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khoa học công nghệ bùng nổ, lợi thế tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt, nguồn lực con người trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, cho sức mạnh nội sinh của dân tộc - một chiến lược mang tầm nhìn xa và có ý nghĩa bền vững. Một xã hội có trình độ dân trí cao, người dân được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng sẽ có khả năng khai phóng để tham gia chủ động, tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Mô hình trường PTDTNT trong gần 70 năm qua đã tạo điều kiện cho HS DTTSđược đảm bảo quyền học tập, rút ngắn khoảng cách về thụ hưởng chính sách giáo dụcgiữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn, giữa đồng bằng với vùng DTTS&MN, phùhợp với cam kết của Việt Nam thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triểnbền vững của Liên Hợp quốc. Với những ưu việt vốn có cùng sự quan tâm đầu tư củaĐảng, Nhà nước, mô hình trường PTDTNT và trường phổ thông liên cấp tại xã biêngiới trên đất liền sẽ có bước tiến mới, góp phần phát triển nguồn nhân lực, nguồncán bộ để vùng đồng bào DTTS&MN phát triển đi lên cùng đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Thông báo số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 thông báo kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới.
2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Báo cáo chuyên đề “Công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực DTTS giai đoạn 2021-2025 và định hướng các chương trình, chính sách giai đoạn 2026-2030”.
3. Hội thảo quốc gia “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở vùng đồng bào DTTS&MN: Thực trạng, thách thức và giải pháp”, Báo cáo tham luận “Thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách ưu tiên phát triển giáo dục vùng DTTS&MN đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước”, Trung tâm Nghiên cứu giáo dục Công bằng và Hòa nhập, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2025.