Từ khóa: Mối quan hệ; Bảo tồn văn hóa; Phát huy nội lực; Cộng đồng dân tộc thiểu số; Phát triển bền vững.
Các hoạt động lễ hội, du lịch ở vùng dân tộc thiểu số luôn gắn với bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển bền vững, văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một lĩnh vực cần bảo tồn, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), văn hóa gắn liền với lịch sử, tri thức địa phương, phong tục, tín ngưỡng và các chuẩn mực xã hội, tạo nên nền tảng bản sắc và sức sống của cộng đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa và tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một, trong khi nội lực cộng đồng DTTS chưa được khai thác và phát huy một cách hiệu quả.
Thực tiễn cho thấy, ở không ít địa phương, công tác bảo tồn văn hóa vẫn mang tính hành chính, hình thức, tách rời khỏi đời sống KT-XH và nhu cầu phát triển của cộng đồng. Ngược lại, các hoạt động phát triển kinh tế nếu thiếu nền tảng văn hóa dễ dẫn đến sự suy giảm bản sắc, đứt gãy truyền thống và mất cân bằng xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhận thức lại mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS như hai mặt không thể tách rời của quá trình phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Làm rõ mối quan hệ này không chỉ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển bền vững dựa vào văn hóa và cộng đồng, mà còn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, nhằm gắn kết bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế, trao quyền cho cộng đồng DTTS và nâng cao năng lực tự chủ của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN).
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Thực trạng bảo tồn văn hóa và nội lực cộng đồng dân tộc thiểu số
Trong những năm qua, công tác bảo tồn văn hóa vùng đồng bào DTTS&MN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và củng cố nền tảng tinh thần của cộng đồng DTTS. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được kiểm kê, sưu tầm, phục dựng và vinh danh; Các lễ hội truyền thống, nghề thủ công, tiếng nói, chữ viết và tri thức địa phương từng bước được quan tâm bảo tồn. Thông qua các chương trình, đề án, dự án văn hóa và phát triển, nhận thức của cộng đồng về giá trị di sản được nâng lên, tạo tiền đề cho việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế và du lịch cộng đồng ở một số địa phương.
Tuy nhiên, thực trạng bảo tồn văn hóa hiện nay vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Ở một số nơi, hoạt động bảo tồn còn mang tính hành chính, dự án ngắn hạn, tập trung vào hình thức trình diễn hoặc phục dựng mà chưa gắn chặt với đời sống thường nhật của cộng đồng. Việc “bảo tồn tĩnh” khiến nhiều giá trị văn hóa bị tách rời khỏi bối cảnh xã hội, sinh thái vốn có, làm suy giảm chức năng xã hội và ý nghĩa tinh thần của di sản. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa, giao lưu văn hóa và tác động của kinh tế thị trường đang làm biến đổi nhanh chóng không gian văn hóa truyền thống, đặt ra thách thức lớn đối với công tác bảo tồn lâu dài.
Về nội lực cộng đồng, có thể thấy đây là nguồn lực phong phú nhưng chưa được phát huy đầy đủ. Các cộng đồng DTTS vẫn duy trì nhiều yếu tố nội sinh quan trọng, như: Tri thức địa phương về canh tác, quản lý tài nguyên, các thiết chế tự quản, quan hệ cộng đồng gắn bó và hệ giá trị văn hóa đặc thù. Ở một số địa phương, nội lực này đã được khơi dậy thông qua các mô hình phát triển sinh kế gắn với văn hóa, như: Du lịch cộng đồng, sản xuất nông nghiệp sinh thái và kinh tế thủ công truyền thống, góp phần cải thiện thu nhập và nâng cao năng lực tự chủ của người dân.
Tuy vậy, nhìn tổng thể, nội lực cộng đồng DTTS vẫn chưa trở thành động lực chủ đạo của phát triển. Về trình độ học vấn, kỹ năng quản lý, khả năng tiếp cận thị trường và công nghệ số vẫn còn hạn chế khiến nhiều cộng đồng DTTS chưa chủ động khai thác và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển bền vững. Bên cạnh đó, vai trò chủ thể của cộng đồng trong các chương trình bảo tồn và phát triển còn mờ nhạt; nhiều quyết định quan trọng vẫn mang tính áp đặt từ bên ngoài, làm giảm động lực tham gia và trách nhiệm của người dân.
Thực trạng trên cho thấy bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS tuy đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa mục tiêu và thực tiễn. Việc thiếu gắn kết hữu cơ giữa bảo tồn văn hóa với phát huy nội lực cộng đồng đang làm suy giảm hiệu quả của cả hai quá trình. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp cận bảo tồn văn hóa theo hướng động, lấy cộng đồng làm trung tâm và coi phát huy nội lực là điều kiện then chốt để bảo đảm phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
Nhờ bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã thúc đẩy hoạt động du lịch cộng đồng ở Đà Nẵng phát triển (Trong ảnh: Đồng bào Ca Dong ở thành phố Đà Nẵng tổ chức lễ hội mừng lúa mới)2.2. Mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng dân tộc thiểu số
Bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS là hai quá trình có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau trong mục tiêu phát triển bền vững. Văn hóa không chỉ là đối tượng cần được gìn giữ, mà còn là nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh quan trọng để cộng đồng DTTS tự tổ chức, tự thích ứng và tự phát triển. Ngược lại, nội lực cộng đồng chỉ thực sự được khơi dậy và phát huy hiệu quả khi gắn chặt với hệ giá trị văn hóa đặc thù của từng dân tộc.
Thứ nhất, bảo tồn văn hóa đóng vai trò nền tảng hình thành và củng cố nội lực cộng đồng DTTS. Các giá trị văn hóa, như: tri thức địa phương, chuẩn mực ứng xử, thiết chế xã hội truyền thống và bản sắc tộc người góp phần duy trì gắn kết cộng đồng DTTS, củng cố niềm tin xã hội và nâng cao năng lực tự quản. Khi văn hóa được bảo tồn một cách sống động trong đời sống hằng ngày, cộng đồng DTTS có cơ sở để duy trì sự ổn định xã hội, truyền thừa tri thức và nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển lâu dài của chính mình. Trong bối cảnh đó, văn hóa trở thành “chất keo xã hội”, tạo nên sức mạnh nội sinh cho cộng đồng DTTS.
Thứ hai, phát huy nội lực cộng đồng là động lực quan trọng bảo đảm tính bền vững của bảo tồn văn hóa. Khi cộng đồng được trao quyền, tham gia chủ động và hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động bảo tồn gắn với phát triển sinh kế, văn hóa không còn là gánh nặng hay nghĩa vụ hành chính, mà trở thành nguồn lực tạo ra giá trị KT-XH. Các mô hình phát triển dựa vào văn hóa, như du lịch cộng đồng, kinh tế thủ công truyền thống hay nông nghiệp gắn với tri thức địa phương, cho thấy khi nội lực cộng đồng DTTS được phát huy, người dân có động lực mạnh mẽ để bảo vệ và làm giàu di sản văn hóa của mình.
Thứ ba, mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS mang tính tương tác hai chiều và bổ trợ lẫn nhau. Bảo tồn văn hóa tách rời phát triển sẽ dễ dẫn đến tình trạng hình thức, “bảo tồn tĩnh”, thiếu sức sống và khó duy trì lâu dài. Ngược lại, phát triển KT-XH không dựa trên nền tảng văn hóa có thể làm suy giảm bản sắc, phá vỡ cấu trúc xã hội truyền thống và làm xói mòn nội lực cộng đồng DTTS. Chỉ khi hai quá trình này được gắn kết chặt chẽ, văn hóa mới trở thành nguồn lực cho phát triển, còn phát triển mới tạo điều kiện để văn hóa được bảo tồn và lan tỏa.
Thứ tư, mối quan hệ này cần được đặt trong bối cảnh thể chế và chính sách phù hợp. Vai trò của Nhà nước và các chủ thể liên quan là tạo khung pháp lý, cơ chế hỗ trợ và không gian để cộng đồng DTTS phát huy vai trò chủ thể trong cả bảo tồn văn hóa và phát triển. Như vậy, bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS sẽ là hai mặt thống nhất, cùng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN trong giai đoạn hiện nay.
2.3. Những vấn đề đặt ra giữa bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng dân tộc thiểu số
Trong quá trình gắn kết bảo tồn văn hóa với phát huy nội lực cộng đồng DTTS nhằm hướng tới phát triển bền vững, nhiều vấn đề phức tạp đã và đang đặt ra, đòi hỏi phải được nhận diện và giải quyết một cách toàn diện, như sau:
Một là, chưa gắn chặt chẽ giữa mục tiêu bảo tồn và yêu cầu phát triển. Ở không ít địa phương, bảo tồn văn hóa vẫn được triển khai theo cách tiếp cận hành chính, thiên về phục dựng, trình diễn, trong khi các hoạt động phát triển KT-XH lại chưa dựa trên nền tảng văn hóa. Sự tách rời này khiến văn hóa khó trở thành nguồn lực nội sinh và làm giảm động lực tham gia của cộng đồng DTTS.
Hai là, vai trò chủ thể của cộng đồng DTTS chưa được phát huy đầy đủ. Trong nhiều chương trình bảo tồn và phát triển, cộng đồng DTTS vẫn ở vị trí thụ hưởng thụ động, thiếu quyền tham gia vào quá trình giám sát và chia sẻ lợi ích. Điều này dẫn đến tình trạng bảo tồn phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài, trong khi nội lực cộng đồng DTTS vốn là yếu tố quyết định tính bền vững chưa được khơi dậy và củng cố.
Ba là, nguy cơ thương mại hóa và làm biến dạng giá trị văn hóa đang gia tăng trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và du lịch. Khi văn hóa được khai thác như một “sản phẩm” tách rời khỏi đời sống cộng đồng DTTS, các giá trị biểu tượng, chức năng xã hội và ý nghĩa tinh thần có thể bị giản lược, thậm chí bị bóp méo. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến bản sắc dân tộc mà còn làm suy giảm nội lực văn hóa của cộng đồng DTTS.
Bốn là, trình độ học vấn, kỹ năng quản lý, khả năng tiếp cận thị trường và công nghệ của nhiều cộng đồng DTTS còn hạn chế, trong khi cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, khung thể chế và chính sách liên quan đến bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS còn thiếu tính đồng bộ, chưa tạo được sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể liên quan.
Những vấn đề trên cho thấy, chúng ta cần có một cách tiếp cận tích hợp, đặt bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS trong mối quan hệ thống nhất, lấy cộng đồng DTTS làm chủ thể. Chỉ khi giải quyết được các “điểm nghẽn” này, mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS mới thực sự trở thành nền tảng cho phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
Đồng bào Mường trình diễn cồng chiêng tại khu phố đi bộ Hồ Gươm, Hà Nội2.4. Định hướng và giải pháp đối với bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng dân tộc thiểu số
Bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS cần được định hướng theo cách tiếp cận phát triển bền vững, lấy cộng đồng làm trung tâm và coi văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển. Định hướng xuyên suốt là chuyển từ bảo tồn mang tính hành chính, tĩnh tại sang bảo tồn động, gắn chặt với đời sống, sinh kế và năng lực tự chủ của cộng đồng. Trên cơ sở đó, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ ở cả trung ương, cộng đồng DTTS và thực tiễn phát triển, như sau:
Về thể chế và chính sách: Cần hoàn thiện khung pháp lý theo hướng bảo đảm quyền tham gia, quyền quyết định và quyền hưởng lợi của cộng đồng DTTS trong các hoạt động bảo tồn và phát triển. Các chương trình, đề án, dự án liên quan đến văn hóa cần lồng ghép rõ ràng mục tiêu phát huy nội lực cộng đồng DTTS, tránh tình trạng bảo tồn tách rời phát triển. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế bảo hộ tri thức địa phương và chia sẻ lợi ích công bằng, nhằm khuyến khích cộng đồng chủ động giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của mình.
Về nâng cao năng lực cộng đồng DTTS: Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý, tổ chức và kinh doanh dựa trên văn hóa cho người dân địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ, già làng, trưởng bản và nghệ nhân. Việc phát triển đội ngũ hạt nhân tại chỗ có khả năng kết nối giữa tri thức truyền thống và tri thức hiện đại sẽ góp phần tăng cường năng lực tự quản và tính bền vững của các mô hình phát triển.
Về tổ chức thực hiện: Cần thúc đẩy các mô hình phát triển sinh kế gắn với bảo tồn văn hóa, như: du lịch cộng đồng, kinh tế thủ công truyền thống, nông nghiệp sinh thái dựa trên tri thức địa phương. Các mô hình này cần được thiết kế phù hợp với bối cảnh văn hóa - xã hội cụ thể, hạn chế xu hướng thương mại hóa và làm biến dạng giá trị văn hóa. Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết đa bên giữa cộng đồng DTTS, chính quyền, doanh nghiệp và tổ chức xã hội nhằm huy động nguồn lực, hỗ trợ kỹ thuật và mở rộng thị trường.
Vì vậy, cần đẩy mạnh truyền thông, giáo dục và đối thoại văn hóa nhằm nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của văn hóa và nội lực cộng đồng DTTS trong phát triển bền vững. Chỉ khi bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS được triển khai một cách thống nhất, lấy cộng đồng DTTS làm chủ thể, phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN mới có nền tảng vững chắc và lâu dài.
3. Thảo luận
Có thể thấy, bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ, song việc hiện thực hóa mối quan hệ này trong thực tiễn phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Đặc biệt, bài viết tập trung phân tích vai trò chủ thể của cộng đồng DTTS và tính động của văn hóa, nhiều chương trình, đề án, dự án bảo tồn trên thực tế vẫn thiên về cách tiếp cận từ trên xuống, làm hạn chế khả năng khơi dậy nội lực cộng đồng DTTS.
Nghiên cứu cũng cho thấy, khi văn hóa được đặt trong dòng chảy của đời sống và gắn với sinh kế bền vững, cộng đồng DTTS có động lực mạnh mẽ hơn để bảo vệ và làm giàu các giá trị văn hóa của mình. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi sự cân bằng tinh tế nhằm tránh xu hướng thương mại hóa và làm biến dạng văn hóa, vốn có thể làm suy giảm nội lực văn hóa và gắn kết xã hội.
Bên cạnh đó, vai trò của thể chế và chính sách cần được nhìn nhận như yếu tố trung gian quan trọng điều tiết mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS. Chưa có cơ chế trao quyền, chia sẻ lợi ích công bằng và nâng cao năng lực cộng đồng DTTS sẽ làm gián đoạn mối liên kết này. Do đó, cần có cách tiếp cận tích hợp, liên ngành và dài hạn, trong đó cộng đồng DTTS được xác định là chủ thể, còn bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS được xem là hai mặt thống nhất của phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
4. Kết luận
Bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời trong mục tiêu phát triển bền vững. Văn hóa không chỉ là di sản cần được giữ gìn, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần củng cố gắn kết xã hội, nâng cao năng lực tự chủ và định hướng phát triển của cộng đồng DTTS. Đồng thời, nội lực cộng đồng DTTS chỉ thực sự được khơi dậy và phát huy hiệu quả khi gắn với hệ giá trị văn hóa đặc thù và được cộng đồng chủ động thực hành trong đời sống.
Thực tiễn cho thấy, những hạn chế trong bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận tách rời hai quá trình này và từ việc chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của cộng đồng DTTS. Do đó, trong giai đoạn hiện nay, cần chuyển sang cách tiếp cận tích hợp, lấy cộng đồng làm trung tâm, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế, trao quyền và chia sẻ lợi ích công bằng. Chỉ khi bảo tồn văn hóa và phát huy nội lực cộng đồng DTTS được triển khai là hai mặt thống nhất của phát triển, vùng đồng bào DTTS&MN mới có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững.
*Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Song Hà (2023), Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/828114/chinh-sach-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-cac-dan-toc-thieu-so-o-viet-nam.aspx
3. Nguyễn Phú Trọng (2021), Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 979 (tháng 12).