Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Một số điểm mới trong xác định các dân tộc khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030

ThS. Nguyễn Thị Thu Hương - 13:22, 22/02/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trên cơ sở những phát hiện trong nghiên cứu thực hiện tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021-2025, bài viết phân tích những mới trong tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030, phục vụ tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn II (2026 - 2030).

Dân tộc Brâu là một trong những dân tộc rất ít người cần có chính sách hỗ trợ phát triển, nhưng vì không sinh sống ở xã khu vực 3 nên trong giai đoạn 2021-2025 không được thụ hưởng chính sách ưu tiên dành cho dân tộc khó khăn đặc thù
Dân tộc Brâu là một trong những dân tộc rất ít người cần có chính sách hỗ trợ phát triển, nhưng vì không sinh sống ở xã khu vực 3 nên trong giai đoạn 2021-2025 không được thụ hưởng chính sách ưu tiên dành cho dân tộc khó khăn đặc thù

Từ khóa: Tiêu chí xác định; Dân tộc; Khó khăn; Khó khăn đặc thù.


1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, xác định một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu là: “Đầu tư phát triển nhóm DTTS rất ít người và nhóm dân tộc còn gặp nhiều khó khăn”.

Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030 đề cập nguyên tắc, giải pháp chủ yếu thực hiện Chương trình là “Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và bền vững, tập trung cho các xã, thôn, bản khó khăn nhất; giải quyết các vấn đề bức xúc, cấp bách nhất; ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, các nhóm DTTS khó khăn nhất”, với một trong các nhiệm vụ cần thực hiện là “Ban hành tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù”.

Như vậy, xây dựng tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù là “gốc”, là “khung”, là cơ sở để cấp có thẩm quyền xác định được danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù, một trong những nhóm đối tượng ưu tiên thụ hưởng và thiết kế nội dung chính sách, bố trí tập trung nguồn lực phù hợp.

Giai đoạn 2021-2025, xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được quy định tại Quyết định số 39/2020/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Giai đoạn 2026-2030, xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được quy định tại Nghị định số 255/2025/NĐ-CP ngày 29/9/2025 của Chính phủ.

Các tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù trong Nghị định số 255/2025/NĐ-CP có nhiều điểm mới so với tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021-2025.

2. Nội dung, kết quả nghiên cứu

a) Những phát hiện trong thực hiện tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2021-2025, danh sách 32 dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và 14 dân tộc có khó khăn đặc thù được phê duyệt tại Quyết định số 1227/QĐ-TTg ngày 14/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ; các tiêu chí xác định dân tộc còn gặp nhiều khó khăn (DTKK) và dân tộc có khó khăn đặc thù (KKĐT) được quy định tại Quyết định số 39/2020/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Qua báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 39 tại 31 địa phương tập trung cư trú của đồng bào DTKK, KKĐT cho thấy:

Về đối tượng áp dụng: Giai đoạn 2021-2025, quy định các DTKK, có KKĐT là các dân tộc phải sinh sống ổn định thành cộng đồng trên địa bàn các xã khu vực III và các thôn đặc biệt khó khăn theo quy định tại Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg ngày 12/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Tiêu chí địa bàn khi xác định các DTKK, KKĐT là các xã khu vực III và các thôn đặc biệt khó khăn dẫn đến thực tế các bất cập trong thực hiện chính sách đó là: Một số hộ dân tộc thuộc danh sách DTKK, KKĐT đang sinh sống ở các xã khu vực I, II (không phải là vùng đặc biệt khó khăn); hoặc sống xen kẽ (không tập trung thành cộng đồng) nên không được hưởng chính sách hỗ trợ ưu tiên. Một số dân tộc rất ít người cần có những chính sách quan tâm gìn giữ, bảo tồn, phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo, bố trí và sử dụng nguồn nhân lực (như Ngái, Brâu) nhưng sống ở khu vực xã khu vực I, II lại không có chính sách ưu tiên đối với KKĐT.

Về tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn

Giai đoạn 2021-2025, tiêu chí xác định DTKK cần đáp ứng 01 trong 03 tiêu chí, với tỷ lệ lớn hơn 1,5 lần bình quân chung tương ứng của 53 DTTS, gồm: Tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo; tiêu chí tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, biếtviết tiếng phổ thông và tiêu chí tỷ suất chết của trẻ dưới 01 tuổi.

Thực tiễn khi triển khai thực hiện, việc xác định DTKK qua tiếp cận tỷ lệ hộ nghèo mà không phải tỷ lệ nghèo đa chiều mới chỉ phản ánh được sự thiếu hụt về thu nhập mà chưa phản ánh hết sự thiếu hụt về các mặt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục…) theo chuẩn nghèo đa chiều 2021-2025.

Tiêu chí tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, biết viết tiếng phổ thông cũng không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay khi kết quả các địa phương thực hiện chính sách phổ cập giáo dục, xóa mù chữ rộng khắp theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ, nên tỷ lệ này có chiều hướng giảm rõ rệt ở các dân tộc. Công tác xóa mù chữ chuẩn ở cấp độ 1 và cấp độ 2 đối với đồng bào DTTS được quan tâm, chú trọng, nhất là ở khu vực khó khăn và ở các DTKK, KKĐT. Do vậy tỷ lệ này không còn là đại diện cho sự khó khăn trong xác định các DTKK giai đoạn 2026-2030.

Đối với tiêu chí tỷ suất chết của trẻ em DTTS dưới 01 tuổi lớn hơn 1,5 lần bình quân chung tỷ suất chết của trẻ em dưới 01 tuổi của 53 DTTS, theo báo cáo tổng kết Quyết định số 39/2020/QĐ-TTg, năm 2024, tỷ lệ này giảm rõ rệt, thậm chí một số tỉnh không còn tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi. Kết quả thực hiện Chương trình “Can thiệp giảm tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đến năm 2030” của ngành y tế cũng kéo giảm số lượng chết của trẻ em dưới 01 tuổi dần trở về 0; hơn nữa việc thống kê chỉ tiêu này ở địa phương không đáng tin cậy, không thống nhất vì thông tin nhạy cảm, đồng bào không khai báo, nên tiêu chí này cũng không còn ý nghĩa thực tiễn để đánh giá sự khó khăn trong xác định các DTKK giai đoạn 2026-2030.

Về tiêu chí xác định các dân tộc có khó khăn đặc thù

Theo Quyết định số 1227/QĐ-TTg ngày 14/7/2021 có 14 dân tộc KKĐT , là các dân tộc có số dân dưới 10.000 người, sinh sống tập trung tại xã khu vực III và thôn đặc biệt khó khăn.

Thực tế, trong 14 dân tộc có khó khăn đặc thù trên, có dân tộc mặc dù có số dân dưới 10.000 người (Brâu) nhưng lại sinh sống tập trung tại xã khu vực I nên không được thụ hưởng các chính sách đối với dân tộc có khó khăn đặc thù. Như vậy một lần nữa khẳng định yếu tố địa bàn khi xác định các DTKK, KKĐT giai đoạn 2021-2025 có những bất cập, chưa phù hợp với thực tế. Hơn nữa tiêu chí này có thể bỏ lại phía sau một số dân tộc rất ít người, sống ở khu vực phát triển, có điều kiện kinh tế nhưng vẫn cần có những chính sách quan tâm gìn giữ, bảo tồn, phát triển trong văn hóa, giáo dục, đào tạo, bố trí và sử dụng nguồn nhân lực.

Về quy trình xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù

Giai đoạn 2021-2025, quy trình xác định các DTKK, KKĐT liên quan đến 4 cấp: Cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương. Việc rà soát số liệu hộ nghèo, số liệu người không biết đọc, biết viết tiếng phổ thông; số liệu trẻ em dưới 01 tuổi chết của từng dân tộc ở các xã khu vực III và thôn đặc biệt khó khăn liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị tại cơ sở, dẫn đến mất nhiều thời gian, số liệu do dân cư khai báo nên khó kiểm chứng, nhất là số liệu về tiêu chí tỷ suất chết trẻ em dưới 01 tuổi.

b) Những điểm mới trong xác định các dân tộc khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026-2030

Về đối tượng áp dụng

Việc xác định các DTKK, KKĐT giai đoạn 2026-2030 không giới hạn ở các xã khu vực III và thôn đặc biệt khó khăn mà được xác định trong tất cả các dân tộc ở phạm vi toàn quốc. Các dân tộc thuộc danh sách các DTKK, KKĐT sinh sống ở bất cứ địa phương nào trong cả nước cũng đều thuộc đối tượng điều chỉnh.

Về tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn

Thay việc sử dụng 03 tiêu chí xác định các DTKK của giai đoạn 2021-2025 bằng việc sử dụng 01 tiêu chí là tỷ lệ nghèo đa chiều cho sát với tình hình khó khăn, thiếu hụt của đồng bào DTTS trong tiếp cận về các mặt y tế, văn hóa, giáo dục... Bởi chuẩn nghèo đa chiều là bức tranh đa diện phản ánh thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của hộ đồng bào DTTS.

Cụ thể, xác định các DTKK sẽ sử dụng tiêu chí tỷ lệ nghèo đa chiều (tỷ lệ nghèo và tỷ lệ cận nghèo) lớn hơn tỷ lệ nghèo đa chiều DTTS chung cả nước thay cho tiêu chí có tỷ lệ hộ nghèo lớn hơn từ 1,5 lần trở lên so với bình quân chung tỷ lệ hộ nghèo của 53 DTTS. Vì thực tế, tỷ lệ nghèo đa chiều luôn thấp hơn tỷ lệ nghèo và càng thấp hơn tỷ lệ nghèo ở xã khu vực III và các thôn đặc biệt khó khăn nên so sánh với tỷ lệ nghèo đa chiều DTTS chung cả nước là phù hợp khi mở rộng đối tượng là các DTTS trong phạm vi cả nước.

Mặt khác hằng năm, việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện thường xuyên tại cơ sở nên nguồn số liệu tính toán xác định tiêu chí là có sẵn, các hộ nghèo và hộ cận nghèo đều có quyết định phê duyệt, địa phương khi thực hiện không phải điều tra thêm và khi triển khai sẽ có số liệu rà soát được ngay. Hơn nữa qua kết quả rà soát hộ nghèo và cận nghèo thì tỷ lệ nghèo đa chiều DTTS chung cả nước là con số đã được công bố, nên việc đối chiếu rà soát các dân tộc có tỷ lệ nghèo đa chiều lớn hơn tỷ lệ nghèo đa chiều DTTS chung cả nước là dễ dàng, đủ căn cứ cơ sở, minh bạch.

Về tiêu chí xác định các dân tộc có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026-2030

Ngoài tiêu chí “cần” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người là một yếu tố đặc thù có thêm 01 trong 02 tiêu chí “đủ”, đó là: xác định mức độ khó khăn về tỷ lệ nghèo đa chiều bình quân hoặc có dân số giảm; tiêu chí dân số giảm cũng là một tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của các dân tộc rất ít người khi xét đến yếu tố đặc thù và là yếu tố đặc thù của đặc thù.

Về quy trình xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026-2030

Từ 01/7/2025, chính quyền địa phương chỉ còn 02 cấp là cấp xã và cấp tỉnh (không còn cấp huyện) nên các thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan trong hồ sơ quy trình xác định các DTKK, KKĐT đã được cắt giảm.

Để có cơ sở tính toán xác định tiêu chí, xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030 được dựa trên 02 biểu mẫu số liệu (cấp xã và cấp tỉnh) với các chỉ tiêu như: dân số, tổng số hộ, số hộ nghèo, số hộ cận nghèo, trong đó sử dụng dữ liệu quản lý dân cư trong vòng 15 ngày kể từ ngày Nghị định có hiệu lực để đảm bảo thống nhất số liệu dân số các dân tộc làm cơ sở so sánh với dân số từng dân tộc trong phạm vi toàn quốc theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong việc xác định, quản lý danh sách các DTKK, KKĐT. Xác định tỷ lệ nghèo đa chiều của từng dân tộc dựa vào kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024, nguồn số liệu này đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, công nhận nên đảm bảo độ tin cậy, chính xác, dễ thống kê; số liệu dân số từng dân tộc tại địa bàn cũng có sẵn theo dữ liệu quản lý dân cư nên địa phương dễ dàng thực hiện và đảm bảo quản lý thống nhất dữ liệu khi xác định danh sách các DTKK, KKĐT trong phạm vi toàn quốc.

Về phân cấp, phân quyền trong quyết định danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù

Giai đoạn 2021-2025, thẩm quyền ban hành Quyết định danh sách các DTKK, KKĐT là của Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền của Đảng và Nhà nước trong cải cách tổ chức bộ máy và phù hợp với quy định phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo , giai đoạn 2026-2030, thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt danh sách các DTKK, KKĐT thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo, do Bộ trưởng quyết định.

Nghiên cứu chính sách đối với dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026-2030

Tiếp tục thực hiện chính sách đối với DTKK, KKĐT giai đoạn 2026-2030 trên cơ sở các chính sách đang thực hiện ở giai đoạn 2021-2025 với các nội dung: Hỗ trợ phát triển sản xuất và sinh kế; hỗ trợ khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống. Tuy nhiên cần nghiên cứu theo hướng tăng hỗ trợ trực tiếp và tăng mức hỗ trợ với hệ số K cao hơn so với mức hỗ trợ cùng nội dung tương ứng của các DTTS khác.

Đặc biệt là nghiên cứu thêm các chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực DTKK, KKĐT như: Chính sách cộng điểm trong tuyển dụng công chức, viên chức; trong thi tuyển vào đại học, cao đẳng; chính sách hỗ trợ, đào tạo, bồi dưỡng học sinh, sinh viên. Ưu tiên tuyển dụng bằng hình thức xét tuyển đối với công chức, viên chức thuộc dân tộc có khó khăn đặc thù; ưu tiên bố trí người thuộc dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù có đủ năng lực tham gia vào các cơ quan nhà nước trong hệ thống chính trị tại địa phương. Tập trung hỗ trợ vượt trội về chính sách dân số, chăm sóc bà mẹ mang thai, thai sản; chăm sóc trẻ em, học sinh, sinh viên trọn quá trình đến khi trưởng thành đối với các nhóm dân tộc có khó khăn đặc thù để bảo tồn, giữ gìn, phát triển dân số các dân tộc có khó khăn đặc thù, tránh mai một các DTTS rất ít người.

3. Kết luận

Nghị định số 255/2025/NĐ-CP ngày 29/9/2025 của Chính phủ sẽ có hiệu lực thi hành từ 15/11/2025. Với các tiêu chí xác định DTKK, KKĐT giai đoạn 2026-2030 có tính tổng hợp, có thể đo đếm, định lượng, có kiểm chứng và “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm”, các tiêu chí mới sẽ đánh giá được mức độ khó khăn, mức độ đặc thù của từng dân tộc khi công nghệ dữ liệu đang phát triển mạnh mẽ. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định đối tượng thực hiện chính sách dân tộc, xác định nguồn lực ưu tiên đầu tư hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn II (2026-2030)./.

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030.

2. Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030.

3. Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.

4. Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Báo cáo tổng kết, đánh giá thực hiện Quyết định số 39/2020/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021 - 2025.