Tôn giáo số là một vấn đề mới, phản ánh những biến đổi của đời sống tôn giáo trong mối quan hệ với sự phát triển của Internet và các nền tảng kỹ thuật sốTừ khóa: Tôn giáo mạng; Tôn giáo số; Tôn giáo và Internet.
1. Quá trình hình thành khái niệm “tôn giáo số”
Cùng với sự bùng nổ Internet và các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu, đời sống tôn giáo có nhiều biến chuyển. Số người sử dụng dịch vụ, tham gia thực hành và nghi lễ tôn giáo trực tuyến tăng mạnh. Thực hành tôn giáo trên mạng Internet đang cho thấy tính tôn giáo có chiều hướng lan rộng hơn. Không gian mạng thành môi trường để “tái giới thiệu thế giới tâm linh vào trong bối cảnh hậu hiện đại”. Không khác gì thế giới ngoài màn hình, Internet đã đem lại “một thị trường của các lựa chọn tâm linh”, đến mức không gian mạng còn giống như “không gian thiêng”. Bối cảnh này dẫn tới một dạng thức mới trong đời sống tôn giáo: “Tôn giáo số” (Digital Religion). Đây là thuật ngữ mới, có từ hơn thập niên qua, được dùng để: “Miêu tả các cá nhân và nhóm tôn giáo tham gia vào truyền thông số và các công nghệ số mới nổi”. Tôn giáo số cũng thể hiện cách hiểu về “những biểu đạt tôn giáo trên môi trường trực tuyến và ngoại tuyến của con người đang ngày càng đan bện vào nhau”. Sự xuất hiện của tôn giáo số bắt nguồn từ việc con người bắt đầu “thử nghiệm với việc mang những mối quan tâm và nghi lễ tôn giáo lên không gian trực tuyến”.
Trước khái niệm “tôn giáo số”, đã có những tên gọi khác để miêu tả biểu đạt và thực hành tôn giáo trên không gian mạng, gồm: “Tôn giáo mạng” (cyber-religion), “tôn giáo trực tuyến” (online religion), “tôn giáo ảo” (virtual religion).
Tôn giáo mạng được dùng để “miêu tả những biểu đạt của việc thờ phượng, nhóm họp và cộng đồng tôn giáo diễn ra trên các nền tảng trực tuyến”. Cách gọi này gắn với việc tôn giáo tham gia không gian trực tuyến từ những năm 1980, khi mà người dùng Internet mang “tâm linh” lên diễn đàn trực tuyến. Đến những năm 1990, khi mạng lưới thông tin toàn cầu (World Wide Web) ra mắt, hoạt động tôn giáo trực tuyến nở rộ, đòi hỏi cần có một lĩnh vực nghiên cứu về sự tham gia của tôn giáo vào không gian mạng. Những năm 1990, thuật ngữ “Internet” và “cyberspace” (không gian mạng) thường đồng nhất với nhau. Tôn giáo tham gia vào môi trường Internet được gọi là tôn giáo mạng, có biểu hiện đa dạng về thờ phượng, nhóm họp và nghi lễ. Nhưng lúc đó, không gian mạng thường được xem là “một không gian khác, không liên quan tới đời sống thực tế của con người, với những dạng thức mới của các cộng đồng và nghi lễ tôn giáo được hình dung thông qua công nghệ mới về Internet và các môi trường ảo trung gian”.
Sang những năm 2000, các thuật ngữ “tôn giáo trên môi trường trực tuyến” (religion online), “tôn giáo trực tuyến” (online religion), “cộng đồng ảo” (virtual community) xuất hiện trong nghiên cứu tôn giáo. Các thuật ngữ này đóng vai trò như công cụ khái niệm cụ thể hơn để “nghiên cứu về các cách thức tôn giáo đang được thực hành bởi những người tham gia môi trường trực tuyến”. Theo Heidi A. Campbell, khái niệm tôn giáo mạng đem lại cách thức khám phá, giả thuyết và cách hiểu về tôn giáo khi tôn giáo tham gia vào bối cảnh công nghệ và văn hóa mới. Nhưng khái niệm này có hạn chế, vì nó liên quan tới khái niệm không gian mạng và ảo thường khiến người ta nghĩ “đây là dạng thức tôn giáo khuyết thiếu hoặc có điểm sai lầm”.
Sau đó, một số nghiên cứu đề xuất các khái niệm: “Tôn giáo trực tuyến” (online religion) và “tôn giáo trên môi trường trực tuyến” (religion online). “Tôn giáo trên môi trường trực tuyến” được xem là có thể trao quyền cho các thành viên trong việc cải cách nghi lễ và vượt qua các hệ thống chính danh tôn giáo truyền thống, cũng như khả năng đem lại cho các cá nhân tôn giáo có những cơ hội vượt qua các giới hạn thời gian, không gian và địa lý thông thường. Còn “tôn giáo trực tuyến” chỉ dạng thức mới của tính tôn giáo và thực hành tôn giáo trong cuộc sống được thể hiện trên môi trường trực tuyến. Như thế, Internet đã mang lại “không gian xã hội mới cho việc tạo dựng hình ảnh về xã hội tâm linh đương đại”. Tuy nhiên, các công cụ khái niệm như “tôn giáo trực tuyến” và “tôn giáo trên môi trường trực tuyến” vẫn có hạn chế. Vì ranh giới phân tách tôn giáo trực tuyến/ trên môi trường trực tuyến với tôn giáo ngoại tuyến/ ngoài đời thực ngày càng mờ, do chúng có sự hòa trộn vào nhau.
Đến những năm 2000, có hàng nghìn website tồn tại, cùng với các nền tảng Internet mới nổi như Facebook và Twitter đã đem tới trải nghiệm đa dạng về biểu đạt tôn giáo cho con người trên mạng. Lúc này, thuật ngữ “tôn giáo mạng” được chuyển sang “tôn giáo ảo” (virtual religion), để chỉ sự lan truyền và phát triển của tôn giáo trên nền tảng công nghệ Internet và không gian số mới. Tôn giáo ảo còn “gợi nhắc các ý niệm về thế giới ảo, như Second Life (Đời sống thứ hai) hoặc các nền tảng chơi game trực tuyến, mà không có phiên bản ngoại tuyến”. Khái niệm này nhằm phân biệt tôn giáo diễn ra trong không gian số hoặc nền tảng trực tuyến với thực hành tôn giáo trong không gian ngoại tuyến. Nhưng cách gọi “tôn giáo ảo” cũng có hạn chế vì nó thường chỉ liên kết với dạng công nghệ thực tế ảo (VR) và môi trường ảo trên trực tuyến, phân tách khỏi “thế giới thực” của các cộng đồng tôn giáo.
Hạn chế của các khái niệm trên đặt ra yêu cầu cần phát triển thêm lý luận về tôn giáo trên không gian Internet. Năm 2012, thuật ngữ “tôn giáo số” (Digital Religion) đã được sử dụng cho chủ đề một số hội thảo về thực hành tôn giáo trên không gian mạng. Sau đó, thuật ngữ này trở nên phổ biến, trở thành công cụ khái niệm hữu hiệu để “khám phá cách thức tôn giáo đang được thực hiện qua các nền tảng số và được cho là có sự kết nối với các đặc điểm văn hóa của đời sống trong một nền kinh tế và xã hội được định hướng bởi thông tin”. Tôn giáo số không chỉ là “một nhãn mới” để miêu tả cách con người thực hành tôn giáo qua các công nghệ Internet, mà còn là cách tiếp cận nghiên cứu tương tác giữa truyền thông số và tôn giáo. Cách tiếp cận này hướng tới việc làm rõ đặc tính tôn giáo được thực hành trực tuyến, phản ánh sự chuyển biến và cách thức rộng hơn mà tôn giáo đang được thực hành, thích ứng trong xã hội đương đại. Tôn giáo số không tách biệt hoàn toàn mà tương liên giữa thực hành tôn giáo trực tuyến và ngoại tuyến.
2. Những đặc điểm của hiện tượng tôn giáo số
Thứ nhất, cộng đồng có kết nối thành mạng lưới. Đặc điểm này thể hiện chức năng của các cộng đồng trong xã hội công nghệ như các mạng lưới mối quan hệ có tính năng động và biến đổi. Cộng đồng tôn giáo số khác với cách hiểu cũ về cộng đồng dựa trên ranh giới của các thiết chế và địa lý. Chính sự xuất hiện của mạng máy tính, một không gian mới được hình thành để các cá nhân có thể sử dụng các nền tảng Internet xây dựng các kết nối xã hội và hệ thống hỗ trợ nhau, hình thành nên một cộng đồng các mối quan hệ cho các cá nhân. Điểm căn bản của các cộng đồng kết nối của tôn giáo số chính là “các mạng lưới xã hội thay đổi liên tục và lỏng lẻo”. Đồng thời, trong môi trường trực tuyến, ảnh hưởng của người lãnh đạo cộng đồng và tôn giáo được dịch chuyển sang cho các thành viên. Chính các thành viên tạo ra, kiểm soát trải nghiệm tôn giáo theo ý muốn. Điều này tạo ra thách thức cho cấu trúc và quyền uy của các nhóm tôn giáo được tổ chức theo truyền thống.
Thứ hai, thực hành hội tụ. Đặc điểm này của tôn giáo số cho phép người sử dụng kỹ thuật số truy cập nhiều nguồn, bao gồm cả những nguồn thế tục và truyền thống, để giúp họ phát triển các ý niệm và thực hành tôn giáo. Những hiểu biết, thực hành tôn giáo này diễn ra đồng thời ở môi trường trực tuyến và ngoại tuyến. Môi trường số cho phép tạo ra một bối cảnh mà con người có thể kết hợp các thông tin và nghi lễ từ nhiều nguồn ngoài quan điểm thuần túy của các đấng bản quyền tôn giáo truyền thống. Người dùng có thể cá nhân hóa niềm tin tôn giáo, lấy và chọn thông tin và nghi lễ đại diện cho họ, xây dựng bản sắc và cộng đồng trực tuyến của riêng họ. Thực hành hội tụ cho thấy, người sử dụng tôn giáo trên môi trường số truy cập các nguồn khác nhau từ bối cảnh khác nhau và sử dụng chúng để xây dựng, phối lại các thực hành tôn giáo của mình. Không gian mạng cho phép cá nhân học hỏi, khám phá và tiếp nhận tôn giáo từ nguồn ngoài truyền thống và bối cảnh quen thuộc. Chính việc “lấy và chọn” nguồn có giá trị nhất cho bản sắc tôn giáo cá nhân, người thực hành tôn giáo số đã góp phần vào việc sáng tạo ra nghi lễ tôn giáo mới trên môi trường trực tuyến.
Thứ ba, thực tại đa điểm. Thực tại đa điểm hình thành dựa trên thực tế có các giáo hội, cộng đoàn tôn giáo đa điểm xuất hiện. Sự hình thành thực tại đa điểm trên không gian số thúc đẩy việc tái cấu trúc các quan niệm truyền thống về các cộng đồng tôn giáo - những cộng đồng vốn dựa trên các kết nối chặt chẽ và cấu trúc được tổ chức dựa trên tính địa phương, có địa điểm cụ thể. Trong khi đó, thực tại đa điểm của tôn giáo số không bị giới hạn bởi ranh giới địa lý, mà tạo lập nên các giáo hội, cộng đồng tôn giáo với những cơ sở nhóm họp không có “bức tường vật lý”. Các mối quan hệ cộng đồng này cũng được duy trì và phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng công nghệ, giống như một cộng đoàn đa điểm phụ thuộc vào cơ sở công nghệ để giữ được các cộng đoàn đã phát triển về mặt địa lý liên kết với điểm chính hoặc điểm mẹ của nó. Khi các cộng đoàn đa điểm tìm cách tạo ra một cấu trúc tổ chức tương liên sẽ đem các cộng đoàn trung gian về mặt công nghệ và truyền thống vào trong cùng một cộng đồng giáo hội đơn nhất. Lúc đó, khái niệm thực tại đa điểm còn chỉ tới sự hiện thực hóa sự tham gia vào thế giới bao gồm cả sự sụp đổ và kết hợp các không gian trung gian và vật lý trước đây vào trong một chỉnh thể mới. Trong tôn giáo số, thực tại đa điểm có điểm giống và khác với thực hành hội tụ. Thực tại đa điểm nhấn mạnh cách thức mà các nhóm tôn giáo sáp nhập các bối cảnh, không gian trực tuyến và ngoại tuyến vào trong một trải nghiệm tôn giáo cùng chia sẻ hoặc mang tính cộng đồng. Còn thực hành hội tụ nhấn mạnh việc con người kết hợp, phối lại các thông tin và nghi lễ tôn giáo vào một bộ thực hành và giá trị tâm linh khác biệt. Truyền thông số duy trì, mở rộng các mối quan hệ đang có với các cộng đồng tôn giáo ngoại tuyến. Với nhiều trường hợp, không gian và công nghệ số đóng vai trò như nguồn cơ bản để xây dựng đời sống tâm linh theo cách tạo ra các nhịp điệu tích hợp cao và không ngừng phụ thuộc vào nhau. Điều đó có nghĩa là thực hành một tôn giáo có thể bao gồm cả một dòng chảy liền mạch và vô hình giữa các không gian số này, tạo ra một dạng trải nghiệm tôn giáo lai ghép giữa trực tuyến và ngoại tuyến. Thực tại đa điểm làm nổi bật thực tế rằng có những mối liên kết chặt chẽ giữa thái độ, hành vi và thực hành trên môi trường trực tuyến và ngoại tuyến của con người.
Thứ tư, bản sắc được kể lại. Đặc điểm này chỉ cách thức mà các cá nhân tôn giáo sử dụng các nguồn khác nhau từ những bối cảnh trực tuyến và ngoại tuyến để xây dựng, tái xây dựng hình ảnh về bản thân và những trải nghiệm tôn giáo trong đời sống thường nhật. Chính sự tương tác trên môi trường mạng giúp cho người tham gia tạo dựng bản sắc tôn giáo cá nhân vượt ngoài ranh giới của thiết chế tôn giáo truyền thống. Môi trường số giúp cá nhân có thể thu thập, tham gia vào nhiều nguồn khác nhau từ trực tuyến và ngoại tuyến để kể câu chuyện về chính mình. Điều này thể hiện rõ trên các nền tảng số nhất là các blogger theo tôn giáo. Hoặc là bản sắc tôn giáo còn thể hiện qua việc lựa chọn các ứng dụng tôn giáo và tham gia những hội nhóm tôn giáo trên nền tảng số. Chính các nền tảng trực tuyến giúp cho cá nhân thể hiện và trình bày câu chuyện bản sắc tâm linh cá nhân. Từ đó các nền tảng trực tuyến thu hút người dùng bày tỏ vấn đề tôn giáo trong đời sống cá nhân, những điều riêng tư mà rất khó được bộc bạch trong môi trường ngoài đời thực như nơi làm việc, nhà trường, thậm chí ngay trong gia đình. Với Internet, cá nhân có thể bày tỏ những gì họ muốn, bất cứ khi nào và cho bất kỳ ai nghe.
Thứ năm, xác thực trải nghiệm. Xác thực ở đây là chất lượng của sự chân thực hoặc đúng đắn. Đây là một trong những đặc điểm thường gây tranh luận trong môi trường tôn giáo số. Xác thực trải nghiệm trong tôn giáo số nhằm chỉ tới việc “một cá nhân quyết định xem những hiểu biết hoặc thực hành tôn giáo mà họ tham gia trực tuyến và ngoại tuyến là đúng đắn hoặc chính xác như thế nào”. Trong môi trường số, con người có các cách thức mới để đánh giá, quyết định tính xác thực. Các trải nghiệm và làm chứng của cá nhân có thể vượt trên chuẩn mực chính thống hoặc ranh giới của cộng đồng trong việc đánh giá các ý niệm, thực hành tôn giáo là xác thực hay không. Cảm nhận về tính xác thực quyết định việc xây dựng thành công một cộng đồng tôn giáo trực tuyến. Nếu không thấy xác thực, người dùng sẽ tìm kiếm trải nghiệm ở nhóm khác. Trong khi nhiều thông tin thực và giả pha trộn thì đặc điểm xác thực trải nghiệm của tôn giáo số vẫn là một quá trình thương thảo. Trong thời đại Internet, ai cũng có thể đưa thông tin lên mạng mà không qua một quy trình kiểm tra nào, nên nhiều trang mạng xã hội thường có thông tin giả. Nội dung về tôn giáo cũng thường là chủ đề của tin giả, tác động đến người tin. Vì vậy, người tiếp nhận thông tin trên môi trường số cần có hành động và cách thức để xác thực câu chuyện mà họ tiếp nhận. Do đó, tuyên bố xác thực hoặc giả mạo có thể là cách sáng tạo hoặc loại bỏ cộng đồng trong không gian số.
Thứ sáu, quyền uy đang chuyển giao. Đặc điểm này của tôn giáo số nhấn mạnh thực hành tôn giáo trực tuyến tạo ra nhiều thách thức và cơ hội mới cho các nhóm và lãnh đạo tôn giáo truyền thống trong thời đại số. Truyền thông số tạo ra không gian cho các nhà ảnh hưởng tôn giáo mới nổi lên trên trực tuyến. Nền tảng số như mạng xã hội và blog đem lại cho con người một không gian ngoài những ranh giới của cộng đồng hoặc tổ chức tôn giáo, nói về niềm tin tôn giáo của mình và có được những người tín đồ cùng chung chí hướng đi theo. Quyền uy dịch chuyển không chỉ đối với các thành viên cộng đồng sử dụng truyền thông kỹ thuật số để có ảnh hưởng hơn trên trực tuyến. Điều này còn đúng đối với cả những lãnh đạo tôn giáo khi họ sử dụng truyền thông số trong công việc của mình để củng cố vị trí của mình. Khi một cá nhân có sẵn vị trí quyền uy ở ngoại tuyến có thể dùng truyền thông số để tăng cường mở rộng tiếng nói của mình tới các lĩnh vực mới. Chính các nền tảng Internet đã chuyển dịch sự chú ý ra khỏi những quyền uy đã được thiết lập bằng cách cho phép những tiếng nói mới nổi lên. Sự dịch chuyển này có thể tạo ra thử thách đối với những ai vốn dĩ đã có quyền xem mình là “người gác cổng thực thụ của một cộng đồng tôn giáo”.
3. Kết luận
Tôn giáo số là một vấn đề mới, phản ánh những biến đổi của đời sống tôn giáo trong mối quan hệ với sự phát triển của Internet và các nền tảng kỹ thuật số. Những đặc điểm của tôn giáo số cho thấy đây là một hiện tượng có sự tương tác chặt chẽ với những biểu đạt, thực hành của tôn giáo trong thế giới thực của con người. Rõ ràng những đặc điểm đáng chú ý như cộng đồng mạng, thực tại đa điểm, thực hành hội tụ, bản sắc cá nhân, sự dịch chuyển trong thực thi quyền uy, cũng như việc xác thực đâu là những biểu hiện đúng đắn của tôn giáo, đang là những điểm hết sức đáng chú ý trong đời sống tôn giáo hiện nay.
Tài liệu tham khảo
1. Anne L. C. Runehov, Lluis Oviedo (Editors) (2013). Encyclopedia of Sciences and Religions. New York and London: Springer,
2. Heidi A. Campbell and Pauline Hope Cheong (2004). Introducation to the Study of Digital Religion. Trong The Oxford Handbook of Digital Religion. Oxford University Press.
3. Heidi A. Campbell and Wendi Bellar (2023). Digital Religion the Basics. London and New York: Routledge Taylor & Francis Group.
4. Heidi A. Campbell (2005). Exploring Religious Community Online We are One in the Network. New York: Peter Lang.
5. Jeffrey K. Hadden, Douglas E. Cowan (Editors) (2000). Religion on the Internet: Research prospects and promises. London: JAI An Imprint of Elsevier Science.
6. Stephen D. O’Leary (1996). Cyberspace as Sacred Space: Communicating Religion on Computer Networks. Journal of the American Academy of Religion LXIV/4.
7. Lê Duy Đại, (2023), Tìm hiểu đạo Bàlamôn trong cộng đồng dân tộc Chăm, Tạp chí Dân tộc học, Số 4.