Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về công tác dân tộc

ThS. Nguyễn Duy Dũng - 07:48, 30/01/2026

Nghiên cứu khoa học đang trở thành nền tảng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách dân tộc, bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong quản lý nhà nước. Thông qua việc cung cấp luận cứ khoa học, cơ sở dữ liệu và các mô hình phát triển bền vững, nghiên cứu khoa học giúp Nhà nước dự báo xu hướng, nhận diện vấn đề và đề xuất giải pháp phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầuhóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác dân tộc của Việt Namđang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới về tư duy, nội dung và phương thứcquản lý nhà nước. Nghiên cứu khoa học trở thành nền tảng quan trọng góp phầnnâng cao chất lượng hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách dân tộc, bảo đảmtính khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong quản lý nhà nước. Thông qua việccung cấp luận cứ khoa học, cơ sở dữ liệu và các mô hình phát triển bền vững,nghiên cứu khoa học giúp Nhà nước dự báo xu hướng, nhận diện vấn đề và đề xuấtgiải pháp phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc. Tăng cường đầu tưcho nghiên cứu khoa học, kết nối giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, họcviện và cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc sẽ góp phần xây dựng nềnquản trị dân tộc hiện đại, công bằng và hướng tới mục tiêu “đoàn kết, phát triển,bền vững”.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, “công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc). Với 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số cùng sinh sống trên dải đất hình chữ S, quản lý nhà nước về công tác dân tộc không chỉ nhằm bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển mà còn hướng tới phát huy tiềm năng, lợi thế đặc thù của từng vùng, từng cộng đồng dân tộc trong phát triển bền vững quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới hiện nay, với tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, đô thị hóa nhanh và sự đa dạng văn hóa - xã hội ngày càng sâu sắc, đang đặt ra những thách thức phức tạp đối với quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Trong đó, yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, hoàn thiện thể chế, ứng dụng khoa học và công nghệ trở thành những nhiệm vụ cấp thiết. Nghiên cứu khoa học, với chức năng cung cấp luận cứ và giải pháp thực tiễn, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng quản trị, dự báo và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Việc gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn quản lý không chỉ giúp Nhà nước hoạch định chính sách sát thực tiễn hơn mà còn tạo nền tảng khoa học cho phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình vận dụng có hệ thống các phương pháp khoa học nhằm nhận diện, lý giải và đề xuất giải pháp đối với những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong quản trị dân tộc. Về bản chất, đây là hoạt động kết hợp giữa khoa học quản lý, khoa học chính trị, xã hội học, nhân học và khoa học hành chính công, hướng tới mục tiêu hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và phương thức quản lý phù hợp với đặc điểm lịch sử - văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác dân tộc, chính sách dân tộc là một bộ phận trọng yếu của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ thể điều tiết, định hướng và bảo đảm công bằng, phát triển hài hòa giữa các vùng, các nhóm dân cư. Nghiên cứu khoa học trở thành công cụ lý luận giúp Nhà nước nắm vững quy luật vận động xã hội, nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ dân tộc, từ đó xây dựng hệ thống chính sách dân tộc khoa học, thực tiễn và bền vững.

Từ góc độ lý luận quản lý nhà nước, hoạt động nghiên cứu khoa học có ba chức năng cơ bản: (1) Chức năng nhận thức, giúp phát hiện bản chất, xu hướng và quy luật phát triển của các vấn đề dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử; (2) Chức năng dự báo, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch dài hạn về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số; (3) Chức năng định hướng chính sách, đề xuất giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Trong thời đại chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc còn bao gồm việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, phân tích dữ liệu lớn, mô hình dự báo chính sách và quản trị tri thức cộng đồng. Điều này giúp nâng cao tính khoa học, khách quan và minh bạch trong hoạch định, triển khai và đánh giá chính sách dân tộc.

Như vậy, nghiên cứu khoa học không chỉ là nền tảng tri thức, mà còn là động lực đổi mới quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Thông qua việc cung cấp căn cứ khoa học cho hoạch định chính sách, nghiên cứu khoa học góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, trong đó mọi dân tộc đều được bảo đảm bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết và cùng phát triển bền vững.

2.2. Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Trong những năm qua, nghiên cứu khoa học đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc ở Việt Nam. Nhiều đề tài, chương trình, dự án khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ và cấp địa phương đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học, cơ sở thực tiễn cho việc đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Các kết quả nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc hình thành, điều chỉnh và triển khai các chính sách dân tộc lớn của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu khoa học của Ủy ban Dân tộc nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu,… đã làm rõ những vấn đề lý luận về quan hệ dân tộc, công bằng xã hội, phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Những nghiên cứu này là cơ sở khoa học cho việc ban hành các chính sách, như: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 (theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ; các chính sách đặc thù về giáo dục, y tế, giảm nghèo bền vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc...

Bên cạnh đó, nghiên cứu khoa học đã góp phần đổi mới nội dung, phương thức quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo hướng hiện đại, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Các kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu số, dân tộc học điện tử hay hệ thống thông tin giám sát, đánh giá chính sách đã bước đầu được triển khai, giúp tăng cường năng lực dự báo, giám sát và điều phối hoạt động giữa các cấp quản lý. Ở một số địa phương, kết quả nghiên cứu khoa học còn được chuyển hóa thành mô hình quản trị cộng đồng tự quản, hỗ trợ phát triển sinh kế, bảo tồn tri thức địa phương và nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác dân tộc.

Tuy vậy, thực tiễn cũng cho thấy việc nghiên cứu khoa học phục vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc vẫn còn một số hạn chế như: Thứ nhất, mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách còn thiếu chặt chẽ; nhiều kết quả nghiên cứu chưa được chuyển hóa thành hành động cụ thể trong hệ thống quản lý. Thứ hai, cơ chế đặt hàng, tài trợ và đánh giá nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dân tộc còn phân tán, thiếu tính chiến lược, dẫn tới tình trạng trùng lặp đề tài, thiếu chiều sâu và tính ứng dụng thấp. Thứ ba, năng lực đội ngũ nghiên cứu và cán bộ quản lý khoa học chưa đồng đều, đặc biệt là ở cấp cơ sở và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thứ tư, việc ứng dụng công nghệ số và phương pháp nghiên cứu hiện đại còn hạn chế, khiến quá trình tổng hợp, phân tích và phổ biến tri thức khoa học chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ chuyển đổi số.

Nhìn chung, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận, song vẫn cần tiếp tục hoàn thiện về thể chế, cơ chế phối hợp và năng lực thực thi. Chỉ khi khoa học thực sự trở thành “nền tảng tri thức” của quản lý nhà nước, gắn nghiên cứu với hành động, lý luận với thực tiễn thì công tác dân tộc mới có thể phát huy đầy đủ vai trò trong chiến lược phát triển bền vững, toàn diện và nhân văn của đất nước trong kỷ nguyên mới.

2.3. Giải pháp phát huy vai trò nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, số hóa và bền vững, việc phát huy vai trò của nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc là yêu cầu mang tính chiến lược. Để khoa học thực sự trở thành “nền tảng tri thức” định hướng cho chính sách, chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp từ thể chế, tổ chức đến nhân lực và công nghệ.

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách về nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dân tộc. Nhà nước cần xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học về dân tộc học và công tác dân tộc trong giai đoạn mới, với tầm nhìn dài hạn, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách. Hệ thống chính sách cần khuyến khích nghiên cứu ứng dụng, đặt hàng theo nhu cầu thực tiễn của cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt ở cấp địa phương và vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hình thành cơ chế chia sẻ, kết nối dữ liệu khoa học giữa các bộ, ngành, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý để đảm bảo sự thống nhất, tránh phân mảnh tri thức khoa học.

Thứ hai, đổi mới phương thức tổ chức và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần chuyển từ cơ chế “nghiên cứu vì nghiên cứu” sang “nghiên cứu phục vụ quyết sách”. Điều này đòi hỏi cần lồng ghép nghiên cứu khoa học vào toàn bộ chu trình chính sách, từ xác định vấn đề, thiết kế chương trình, đến đánh giá tác động. Cần phát huy vai trò của Hội đồng Khoa học các cấp trong tư vấn chiến lược và thẩm định khoa học, đồng thời thiết lập hệ thống đánh giá độc lập về chất lượng, tính ứng dụng và hiệu quả xã hội của các đề tài nghiên cứu.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu và quản lý khoa học trong lĩnh vực dân tộc. Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nghiên cứu viên, chuyên gia về lĩnh vực dân tộc và cán bộ quản lý có năng lực liên ngành, am hiểu đặc điểm văn hóa, xã hội, kinh tế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, có chính sách đãi ngộ và thu hút người tài làm việc tại các vùng khó khăn, tạo điều kiện để nhà khoa học gắn bó với thực tiễn cơ sở.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong nghiên cứu và quản lý tri thức khoa học. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số quốc gia về dân tộc, bản đồ thông tin chính sách, nền tảng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo phục vụ dự báo xu hướng dân tộc, tôn giáo sẽ giúp nâng cao năng lực giám sát, đánh giá và ra quyết định khoa học. Song song, cần khuyến khích chuyển đổi số trong phổ biến kết quả nghiên cứu, tăng khả năng tiếp cận thông tin cho cộng đồng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế và liên kết vùng trong nghiên cứu khoa học dân tộc. Hợp tác nghiên cứu với các tổ chức quốc tế, học viện, viện nghiên cứu khu vực sẽ góp phần tiếp thu tri thức toàn cầu, đồng thời quảng bá hình ảnh, chính sách dân tộc của Việt Nam ra thế giới.

Tóm lại, phát huy vai trò của nghiên cứu khoa học trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc không chỉ là yêu cầu của tiến trình đổi mới quản trị công mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy công bằng, phát triển bền vững và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên hội nhập và số hóa hiện nay.

3. Thảo luận

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, nghiên cứu khoa học về công tác dân tộc đang trở thành một trụ cột quan trọng trong hệ thống quản lý nhà nước, góp phần định hình các chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng bền vững, bao trùm và hiện đại. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tiễn cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa nghiên cứu và hoạch định chính sách, giữa tri thức khoa học và thực tiễn quản trị.

Một mặt, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã đóng vai trò thiết thực trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa, dân cư, sinh kế, di cư hay biến đổi xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần nhận diện những vấn đề cốt lõi, hỗ trợ các cơ quan quản lý hoạch định chính sách sát thực tế hơn. Bên cạnh đó, sự phát triển của các phương pháp nghiên cứu định tính, liên ngành và công nghệ phân tích dữ liệu hiện đại đang mở ra hướng tiếp cận mới cho công tác dân tộc, giúp quá trình ra quyết định trở nên linh hoạt, dựa trên bằng chứng và có khả năng dự báo cao. Mặt khác, thách thức lớn nhất hiện nay là tính liên kết và ứng dụng thực tiễn của các nghiên cứu khoa học còn hạn chế. Nhiều đề tài vẫn mang tính hàn lâm, chưa kết nối chặt chẽ với yêu cầu của cơ quan quản lý và chưa được chuyển hóa thành công cụ chính sách cụ thể. Hệ thống dữ liệu khoa học về dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc còn phân tán, thiếu tính mở và chưa khai thác hiệu quả cho công tác chỉ đạo, điều hành.

Do đó, cần đặt nghiên cứu khoa học trong một cơ chế quản trị tri thức quốc gia, nơi mà kết quả nghiên cứu không chỉ dừng ở việc mô tả hiện tượng, mà phải trở thành nền tảng tri thức định hướng chính sách, thúc đẩy quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo hướng hiện đại, nhân văn và thích ứng với những biến động của thời đại mới.

4. Kết luận

Nghiên cứu khoa học giữ vai trò nền tảng trong việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, gắn với chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. Thông qua việc cung cấp luận cứ khoa học, bằng chứng thực tiễn và khung lý luận hiện đại, nghiên cứu khoa học góp phần định hướng chính sách, hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản trị công tác dân tộc theo hướng toàn diện, nhân văn và hiệu quả.

Tuy nhiên, để phát huy đầy đủ giá trị của nghiên cứu khoa học, cần tăng cường gắn kết giữa cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý, đẩy mạnh ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạch định, giám sát, đánh giá chính sách dân tộc. Đồng thời, xây dựng hệ sinh thái tri thức mở về công tác dân tộc sẽ tạo nền tảng cho việc ra quyết định dựa trên bằng chứng, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách vùng miền và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Hùng. (2013). Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc. Hà Nội: Nxb. Chính trị - Hành chính.

2. Chính phủ. (2021). Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.

3. Luật Khoa học công nghệ năm 2013.

4. Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017

5. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

6. Nghị định số 127/2024/NĐ-CP ngày 10/10/2024 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

7. Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 của Quốc hội, Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

8. Nghị quyết số 120/2020/QH14, ngày 19/6/2020 của Quốc hội, Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

9. Nguyễn Lâm Thành. (2022). Chính sách về khoa học công nghệ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/07/07/chinh-sach-ve-khoa-hoc-cong-nghe-thuc-day-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so/