Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Nhận diện các nguồn lực dân tộc thiểu số tham gia phát triển đất nước

TS. Lý Thị Thu; Hoàng Thị Phương Liên - 17:00, 11/02/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết nhận diện các dạng nguồn lực: nhân lực, văn hóa - tri thức bản địa, tài nguyên - môi trường, vật chất, chính trị - xã hội để thấy nguồn lực dân tộc thiểu số đã, đang và có tiềm năng lớn, cần tiếp tục được khai thác hợp lý nhằm đem lại lợi ích kép, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhanh và bền vững, vừa hòa nhịp vào các mục tiêu phát triển của đất nước

Từ khóa: Dân tộc thiểu số; Nguồn lực; Nhận diện; Phát triển đất nước.


1. Đặt vấn đề

Nhận diện nguồn lực dân tộc thiểu số (DTTS) không chỉ đơn giản là thống kê dân số hoặc mô tả văn hóa mà quan trọng hơn là định vị các yếu tố có thể khai thác để đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) nói riêng, cả nước nói chung. Bài viết này phân tích về nguồn lực DTTS, tránh tiếp cận một chiều xem người DTTS chỉ là đối tượng thụ hưởng thay vì là đối tác phát triển từ chính các nguồn lực rất đặc trưng mà họ hoặc vùng DTTS&MN đang sở hữu.

Vùng DTTS có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch
Vùng DTTS có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch

2. Các nguồn lực dân tộc thiểu số

Khái niệm nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội bao hàm các yếu tố hữu hình và vô hình: nguồn lực con người; nguồn lực vật chất; nguồn lực thiên nhiên và tài nguyên; nguồn lực văn hóa và tri thức bản địa; nguồn lực chính trị - xã hội. Từ đó, nguồn lực DTTS được hiểu là tập hợp các yếu tố đặc thù gắn với cộng đồng DTTS.

2.1. Nguồn lực con người

Nguồn lực con người DTTS là yếu tố trung tâm, bao gồm quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất xã hội.

Tính đến 01/7/2024, toàn quốc có 14.443.086 người DTTS, tăng 323.830 người so với năm 2019, chiếm 14,3% - một tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu dân số quốc gia. Trong đó nam giới có trên 7,2 triệu người, chiếm 50,3%; nữ giới có trên 7,1 triệu người, chiếm 49,7% dân số DTTS. Chia theo nhóm ngành nghề, số người DTTS từ 15 tuổi trở lên có việc làm theo nghề nghiệp như sau:

Theo bảng trên, lực lượng lao động DTTS trong độ tuổi 25-54 chiếm tỷ lệ cao (83,3%). Trong độ tuổi này, các chỉ số khác như lao động nam, lao động nữ, lao động ở thành thị, lao động ở nông thôn là người DTTS đều đạt tỷ lệ cao nhất. Độ tuổi 25-54 được xem là “lực lượng cốt lõi” vì có kinh nghiệm làm việc, kỹ năng chuyên môn cao và sức khỏe tốt, đóng góp hiệu quả nhất vào hoạt động sản xuất kinh doanh, năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế ở vùng DTTS&MN nói riêng, cả nước nói chung. Lao động trong độ tuổi này cũng có khả năng tạo ra thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống cho gia đình và đóng góp vào sự ổn định xã hội. Khi lực lượng lao động này dồi dào, vùng DTTS&MN sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững, đủ khả năng đối mặt và thích ứng với các biến đổi kinh tế, xã hội có thể xảy ra.

2.2. Nguồn lực văn hóa và tri thức bản địa

Văn hóa và tri thức bản địa của các DTTS là một dạng vốn vô hình, là sức mạnh mềm, sức mạnh nội sinh, là nguồn lực quan trọng, động lực to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập quốc tế của mỗi DTTS nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.

Là 1 trong 4 trụ cột quan trọng của phát triển (cùng trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường), nguồn lực văn hóa DTTS bao gồm các giá trị văn hóa phi vật thể và vật thể. Những năm qua, nhiều giá trị, di sản văn hóa của các DTTS đã được nghiên cứu, tôn vinh là di sản văn hóa quốc gia và của nhân loại. Đã có 134 di sản văn hóa phi vật thể của các DTTS trên tổng số 288 di sản văn hóa phi vật thể của cả nước được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; hỗ trợ đầu tư bảo tồn được 85 lễ hội của đồng bào các DTTS; 32 làng, bản, buôn của 25 dân tộc (Báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021). Đáng chú ý là Việt Nam có 15 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận thì có 04 di sản thuộc về văn hóa của đồng bào DTTS, gồm: Nghi lễ Then của người Tày, Nùng, Thái; nghệ thuật Xòe của người Thái; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Nghề làm gốm của người Chăm. Hệ thống các di sản văn hóa của các DTTS đã tạo lợi thế cho du lịch văn hóa trở thành mũi nhọn phát triển kinh tế và định vị thương hiệu sản phẩm du lịch cho các địa phương.

Trong các chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa của đồng bào DTTS tiếp tục được các cơ quan hoạch định chính sách nhận thức, coi trọng chuyển hóa thành nguồn lực trong các chiến lược phát triển. Đặc biệt trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, đã xác định và lồng ghép nhiều mục tiêu, nội dung, nguồn lực của Chương trình để củng cố bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, góp phần phát triển kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã hội ở vùng đồng bào DTTS&MN.

2.3. Nguồn lực thiên nhiên và tài nguyên

Đồng bào DTTS sinh sống chủ yếu ở những vùng có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp, với nhiều địa danh nổi tiếng trên bản đồ du lịch trong nước và quốc tế, đặc biệt hấp dẫn du khách.

Địa bàn cư trú chủ yếu của đồng bào DTTS còn sở hữu hơn 14,4 triệu ha rừng, là đầu nguồn sinh thủy gắn với các công trình thủy điện lớn của quốc gia vừa cung cấp điện, vừa cung cấp nước sản xuất cho vùng hạ du và khu vực đồng bằng. Vùng này có nhiều tài nguyên khoáng sản có giá trị như: vàng, nhôm, thiếc, than, ăngtimon…; có hệ sinh thái động, thực vật phong phú; đất đai, đặc biệt là đất đồi, đất nông nghiệp cùng nguồn gen nông nghiệp bản địa và hệ sinh thái đa dạng là nền tảng cho các chuỗi giá trị nông - lâm - dược liệu đặc sản và sản xuất hàng hóa các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như: cà phê, cao su, chè, điều, tiêu, cây lấy gỗ và sản phẩm ngoài gỗ, cây ăn quả và phát triển chăn nuôi đại gia súc.

2.4. Nguồn lực vật chất

Nguồn lực vật chất gồm hai nội dung. Thứ nhất là nguồn lực tài chính thực thi các chính sách dân tộc. “Trong giai đoạn 2011-2021, ngân sách nhà nước đã bố trí 246.654,5 tỷ đồng để đầu tư cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa ở vùng DTTS, nguồn vốn ODA đã huy động được 2,6 tỷ USD, vốn tổ chức phi chính phủ (NGO) khoảng 5,5 triệu USD, Chính phủ Ai-len viện trợ không hoàn lại 10 triệu EURO” .

Giai đoạn 2021-2030, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/QH14 phê duyệt Đề án và Nghị quyết số 120/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một Chương trình Mục tiêu Quốc gia dành riêng cho vùng đồng bào DTTS&MN, với tổng mức vốn dự kiến cho giai đoạn 2021-2025 là hơn 137 nghìn tỷ đồng, thậm chí Chương trình 1719 là chương trình đầu tiên trên thế giới dành riêng cho cộng đồng DTTS ( Ramla Khalidi, 2025).

Giai đoạn 2022-2025, tổng vốn ngân sách Trung ương đã giao thực hiện Chương trình đến 8/2025 là gần 90 nghìn tỷ đồng, đạt 85,5%, trong đó vốn đầu tư phát triển trên 49 nghìn tỷ đồng, đạt 98,3% kế hoạch vốn được duyệt; vốn sự nghiệp đạt gần 41 nghìn tỷ đồng, đạt 75% kế hoạch vốn được duyệt (Báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025). Nguồn lực vật chất to lớn này thể hiện được chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là chính sách đi đôi với ngân sách nhằm đầu tư phát triển toàn diện vùng DTTS&MN giảm dần, tiến tới không còn xã, thôn có điều kiện đặc biệt khó khăn về kinh tế, xã hội vào năm 2030.

Giai đoạn 2026-2030, Nhà nước sẽ “cân đối ưu tiên bố trí nguồn lực cho Chương trình tăng khoảng 10-15% so với giai đoạn 2021-2025. Huy động các nguồn vốn Trung ương, địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện Chương trình” (Thông báo số 441/TB-VPCP ngày 22/8/2025 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, định hướng nội dung giai đoạn 2026-2030).

Thứ hai là nguồn lực cơ sở vật chất của vùng đồng bào DTTS&MN. Đến cuối năm 2024, 98,4% xã vùng đồng bào DTTS&MN có đường ô tô đến trung tâm; 96,7% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; 99,3% xã có trạm y tế với 83,5% xã có trạm đạt chuẩn; trên 90% xã được phủ sóng phát thanh truyền hình; 100% xã có hạ tầng viễn thông và được phủ sóng di động đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân (Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác dân tộc năm 2024). Riêng các xã đặc biệt khó khăn, đến tháng 8/2025 đã có đầy đủ công trình hạ tầng: 100% xã có đường ô tô đến trung tâm; 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện; 65% xã có hệ thống thủy lợi nhỏ đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống; 88% thôn có đường cho xe cơ giới và 42% thôn có đường giao thông đạt chuẩn, trên 50% xã có trạm y tế đạt chuẩn (Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện công tác dân vận chính quyền của Bộ Dân tộc và Tôn giáo giai đoạn 2021-2025, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn tiếp theo, 2025).

Ngoài ra, nguồn lực vật chất còn bao gồm các trang thiết bị sản xuất như máy móc, công cụ, nhà máy, xí nghiệp… khó thống kê hết. Nguồn lực vật chất là yếu tố quan trọng, căn bản góp phần phát triển sản xuất và đời sống của đồng bào DTTS; tạo động lực để tốc độ tăng trưởng kinh tế các tỉnh vùng đồng bào DTTS&MN khá cao, trong đó “các tỉnh vùng Tây Bắc tăng bình quân 8%/năm, Tây Nguyên tăng bình quân 7,5%/năm, Tây Nam Bộ tăng bình quân 7%/năm”, “vượt mục tiêu đề ra tại Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” (Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác dân tộc năm 2024).

Giá trị văn hóa truyền thống các DTTS là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội
Giá trị văn hóa truyền thống các DTTS là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội

2.5. Nguồn lực chính trị, xã hội

Nguồn lực chính trị thể hiện ở sự góp mặt đại diện người DTTS trong các cơ quan dân cử. Tỷ lệ người DTTS tham gia Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp không chỉ ghi nhận, phản ánh quyền bình đẳng trước pháp luật về bầu cử, ứng cử của người DTTS, mà còn là cơ hội để gia tăng tiếng nói của họ trong việc ra các quyết định chính sách liên quan đến người DTTS tại các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và địa phương.

Kết quả bầu cử Quốc hội các khóa, nhất là những khóa gần đây minh chứng rõ nét cho việc gia tăng mức độ đại diện của người DTTS tại cơ quan dân cử. Cụ thể, số lượng đại biểu Quốc hội là người DTTS luôn chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ dân số trong 3 nhiệm kỳ Quốc hội gần đây. Nhiệm kỳ khóa XIII (2011-2016), tỷ lệ DTTS đạt 15,6%, nhiệm kỳ khóa XIV (2016-2021) đạt 17,3% và nhiệm kỳ khóa XV (2021-2026) đạt 17,8 %, với 89/499 đại biểu của 32 dân tộc trúng cử, cao nhất các khóa Quốc hội, gần với chỉ tiêu quy định mới về ứng cử viên DTTS theo luật định (18%). Tỷ lệ người DTTS tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 là 17,09%, cấp huyện là 18,23%, cấp xã là 20,55%. Bên cạnh đó, tỷ lệ người DTTS tham gia vào bộ máy chính trị ngày càng tăng. “Theo Báo cáo số 855/BC-UBDT ngày 03/6/2022 của Ủy ban Dân tộc về “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc”, tính đến năm 2021, số lượng cán bộ, công chức, viên chức người DTTS của các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 3.952.225 người”; “tỷ lệ cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, bí thư cấp ủy là người DTTS nhiệm kỳ 2020-2025 đã cao hơn nhiệm kỳ trước, trong đó tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS hiện chiếm khoảng 14,5%; trong đó, giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp chiếm 17,2%. Đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025: cấp ủy viên là người DTTS đạt 11,7%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,8%; Ủy viên ban thường vụ đạt tỷ lệ 11,8%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,5%; bí thư cấp ủy người DTTS là 06 đồng chí, đạt 9,2%, cao hơn nhiệm kỳ trước 1,5%” (Tráng A Dương, 2024) .

Sự tăng lên về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ người dân DTTS trong những năm qua đã góp phần chuyển đổi nguồn lực xã hội thành nguồn lực phát triển, thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - chính trị, trật tự xã hội vùng DTTS của cả nước.

Ngoài ra, nguồn lực xã hội DTTS còn được thể hiện ở những mô hình sản xuất và các hoạt động kinh tế khác của từng cộng đồng DTTS, góp phần vào sự phát triển chung của địa phương và quốc gia. Cạnh đó là tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương trợ giúp đỡ nhau trong cộng đồng là truyền thống quý báu, là sức mạnh tinh thần giúp các DTTS khắc phục mọi khó khăn, vươn lên phát triển.

3. Kết luận

Trong tiến trình phát triển cùng đất nước, cần thống nhất nhận thức rằng nguồn lực DTTS là bộ phận không thể tách rời của nguồn lực quốc gia. Nhận diện và có chính sách khai thác, phát huy hợp lý các dạng nguồn lực này sẽ đem lại lợi ích kép: vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội tại vùng đồng bào DTTS&MN nhanh và bền vững, vừa hòa nhịp tham gia thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới./.

Tài liệu tham khảo

1. Tổng cục Thống kê (2019). Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. https://www.gso.gov.vn.

2. Quốc hội (2019), Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030.

3. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN 2021-2030. https://vanban.chinhphu.vn.

4. Báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025.

5. Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác dân tộc, Ủy ban Dân tộc năm 2024.

6. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện công tác dân vận chính quyền của Bộ Dân tộc và Tôn giáo giai đoạn 2021-2025, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn tiếp theo.