Từ khóa: Hiện tượng tôn giáo mới; Đạo lạ; Quản lý nhà nước.
“Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ” đã bị cơ quan chức năng dừng hoạt động trên phạm vi toàn quốc1. Nhận diện “hiện tượng tôn giáo mới” ở Việt Nam
Ngày nay, những xu hướng đa dạng hóa đời sống tôn giáo, trước hết là sự lựa chọn đức tin, tín ngưỡng phù hợp với xu thế của một xã hội công dân, khuynh hướng dân chủ ngày càng rộng mở, nên xuất hiện các “hiện tượng tôn giáo mới”, hay “đạo lạ”, giáo phái, tiểu nhóm, tiểu đạo. Đó là tất yếu của sự biến chuyển đời sống tôn giáo trong xã hội đương đại ở Việt Nam do mở cửa, hội nhập. Theo thống kê đến cuối thập niên 90 của thế kỉ XX, có 50 nhóm giáo phái với khoảng 60 tên gọi khác nhau. Trong số đó, có nhiều nhóm giáo phái từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam như: Thanh Hải Vô thượng Sư; Ômôtô giáo; Soka Gakkai (Nhật Bản); Vôvi Pháp (Pháp); Phật Mẫu địa cầu hay Địa Mẫu (Trung Quốc)… Có khoảng 8 nhóm giáo phái như thế trong tổng số 50 “hiện tượng tôn giáo mới”.
Hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới”, “đạo lạ” thời gian qua đã gây nên những ảnh hưởng nhất định đến đời sống kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận quần chúng, nhất là các loại hình phản văn hóa như đạo Lưu Văn Ty ở Hà Tĩnh, đạo Phạ Tốc ở Sơn La, đạo Chặt ngón tay ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, lại có loại hình “đạo lạ” trong sinh hoạt, lễ nghi có dáng dấp là một hình thức tín ngưỡng như Hội truyền phái Trúc Lâm Yên Tử, đạo Thiền vô vi… Có loại “đạo lạ” lại xin đăng kí hoạt động với các cấp chính quyền để được hoạt động như các tín ngưỡng, tôn giáo khác.
2. Thực trạng “hiện tượng tôn giáo mới” ở Việt Nam hiện nay
Khảo sát gần đây về “hiện tượng tôn giáo mới” ở miền Bắc nước ta cho thấy có rất nhiều hiện tượng tôn giáo từ các hình thức tín ngưỡng dân gian truyền thống, đặc biệt là Đạo Mẫu. Đây cũng được xem là sự chuyển biến có tính quy luật của tín ngưỡng thời hiện đại ở Việt Nam. Thế kỷ XIX nảy sinh các “Hiện tượng tôn giáo mới” là một trong những vấn đề nóng bỏng của tôn giáo thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Các nước Âu - Mỹ quan tâm thuyết Cứu thế luận thiên niên kỷ. Còn ở châu Á, Nhật Bản là điển hình lại quan tâm đến sự cứu rỗi từ các “đấng tối cao” khác. Ở Việt Nam, hai thập niên gần đây các nhóm phái có nguồn gốc “thần học” với tâm lý khác nhau tạo nên các “hiện tượng tôn giáo mới”, “đạo lạ” có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhiều hình thức tín ngưỡng quen thuộc. Đó cũng là sự chuyển biến đời sống tâm linh tôn giáo trong xã hội hiện đại gần đây, sự chuyển hóa các giá trị và đời sống đức tin; sự “bình đẳng” hơn giữa các loại hình đức tin…ở mỗi quốc gia.
Trước đây, các “hiện tượng tôn giáo mới”, “đạo lạ” ở Việt Nam nếu có thường chỉ xuất hiện ở Nam Bộ dưới cái tên như Hội kín, Thiên Địa hội và đặc biệt các phong trào Ông Đạo, đạo Dừa ở Bến Tre. Nay ở Bắc Bộ thời mở cửa, hội nhập lại là nơi tập trung xuất hiện nhiều nhóm phái “tôn giáo mới” hơn ở Nam Bộ. Điều đó cho thấy rõ ở các tỉnh phía Bắc có sự hẫng hụt về tâm thức tôn giáo rõ nét hơn, là thời điểm để tôn giáo tranh thủ mới rộng tín đồ. Thậm chí họ hay đổi tên đạo để dễ thích nghi trong đời sống tôn giáo. Các nhóm “tôn giáo mới” chỉ có lời răn dạy và hướng dẫn thờ cúng tự sáng tác truyền miệng. Chưa hình thành cơ cấu tổ chức giáo chủ, chỉ phân công người làm Hội trưởng, Hội phó, Thủ quỹ để quản lý số người theo từng địa bàn. Chưa có giáo lý và giáo lễ rõ rệt. Hình thức sinh hoạt: Hướng thiện và tu nhân tích đức. Tuy nhiên, có đan xen yếu tố mê tín dị đoan (ma thuật), có nhóm khá trầm trọng. Thậm chí có biểu hiện nội dung chính trị phản động (Thanh Hải Vô Thượng Sư của Đặng Thị Trinh) hoặc đồi trụy (Chân Không của Lưu Văn Ty). Phần lớn người đề xướng (hoặc cầm đầu, hay giáo chủ) trước đây là đàn ông. Khoảng 20 năm trở lại đây, đa phần phụ nữ thành lập và điều khiển như: Đặng Thị Trinh ở Đài Loan (Thanh Hải Vô Thượng Sư); Đinh Thị Hà ở Phú Thọ (Đoàn 18 Hùng Vương); Nguyễn Thị Lương ở Hải Phòng (Ngọc Phật Hồ Chí Minh); Huỳnh Thị Bảy ở Plâycu (đạo Tiên - Phật nhất giáo); Nguyễn Thị Nối ở Thái Bình (Đạo Cô Non hay Đạo Thiên cơ); Nguyễn Thị Triệu ở Hải Dương (Đạo Thiên nhiên).
Người Việt Nam nói chung không có một tâm thức về một đạo đóng vai trò quốc giáo, vẫn giữ truyền thống “tam giáo đồng nguyên”, đạo nào cũng tốt. Thói quen ứng xử hòa đồng với các tôn giáo “trước lạ sau quen” đã tạo ra cho “hệ thống” tôn giáo ở Việt Nam sự phong phú, tập trung nhiều luồng tôn giáo trên thế giới và khu vực. Các nhóm “hiện tượng tôn giáo mới”, “đạo lạ” nảy sinh ngày một nhiều cho thấy xu thế “đa nguyên về tôn giáo”
3. Nhận diện những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam
Âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là những mưu đồ, hành động của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước khai thác những vấn đề liên quan đến tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vấn đề trên chỉ ra đối tượng, mục đích, nội dung âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam.
Thế lực thù địch ở nước ngoài: Các tổ chức nhân quyền, tôn giáo thế giới chủ yếu ở Mỹ và Châu Âu, các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại... thường giữ vai trò chủ mưu, chỉ đạo, tài trợ và hậu thuẫn cho đối tượng ở trong nước.
Thế lực thù địch ở trong nước: Đó là các đối tượng chống đối trong các tôn giáo (không thừa nhận các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận) hoặc các tổ chức tôn giáo trong các tôn giáo chưa, không được Nhà nước công nhận (cả trong 16 tôn giáo và các “hiện tượng tôn giáo mới”, đạo lạ, tà đạo) hoặc các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật.... trực tiếp triển khai, thực hiện âm mưu, ý đồ lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở nước ngoài.
Tuy âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam có khác nhau nhưng chúng luôn câu kết, móc nối chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích chống chủ nghĩa cộng sản, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, kích động bạo loạn lật đổ, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa; Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Biểu hiện cụ thể:
Một là, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào có theo tôn giáo chống lại chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập họ với Đảng, tiến tới đòi xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Hai là, vô hiệu hóa vai trò của của Nhà nước trong quản lý xã hội.
Ba là, làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Các thế lực thù địch quốc tế: lợi dụng các vấn đề liên quan đến tôn giáo thu thập thông tin từ những chức sắc, tín đồ trong nước, đặc biệt là số đối tượng phản động, chống đối trong các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận để có những hoạt động vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là âm mưu, hoạt động phổ biến, được tiến hành thường xuyên, rộng khắp của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam. Những hoạt động này luôn được sự hậu thuẫn từ các tổ chức tôn giáo, nhân quyền quốc tế.
Các thế lực thù địch ở trong nước: thường xuyên liên kết, câu kết chặt chẽ với nhau tiếp nhận, thực hiện sự chỉ đạo, hỗ trợ của các thế lực thù địch ở nước ngoài; soạn thảo, phát tán các tài liệu có nội dung kích động chống phá Đảng, Nhà nước; Lợi dụng các ngày lễ của các tôn giáo để kích động, lôi kéo tín đồ tập trung đông người, có những hành động gây rối, biểu tình, gây mất an ninh trật tự; Lợi dụng các “hiện tượng tôn giáo mới” để trục lợi, làm lệch chuẩn đạo đức, văn hóa xã hội, gây mất ổn định chính trị xã hội, hoang mang dư luận, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
4. Định hướng giải quyết “hiện tượng tôn giáo mới” ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Nhận diện mô hình, tổ chức và hoạt động của các loại hình nói trên và tác động, ảnh hưởng của hiện tượng tôn giáo mới đối với các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội đang được Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm. Từ đó, có phương pháp cụ thể trong vận động, tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các hoạt động lợi dụng hiện tượng tôn giáo mới để vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia, dân tộc. Việc nghiên cứu và hoạch định chính sách đối với hiện tượng tôn giáo mới, “đạo lạ” gặp những khó khăn nhất định.
Một là, chưa có một định nghĩa về hiện tượng tôn giáo mới, “đạo lạ” được thừa nhận. Tôn giáo học cũng tiến hành nghiên cứu chưa lâu. “Đạo lạ” nếu coi nó là “hiện tượng tôn giáo mới” thì thế giới vẫn liên tục xuất hiện các đạo mới, nhất là từ nửa đầu thế kỉ XX trở về trước.
Hai là, hiện tượng tôn giáo mới, “đạo lạ” hiện không có cơ cấu tổ chức như các tôn giáo truyền thống, nửa công khai, nửa bí mật, khó kiểm soát, lành ít, dữ nhiều, là “tôn giáo nhóm nhỏ”.
Ba là, về mặt pháp lý, các nước xu hướng mở rộng “quyền tự do tôn giáo”, quyền đổi đạo, cải đạo của con người thì nước ta lại có cơ sở, kinh nghiệm cho rằng loại đạo này dễ gây mất an ninh chính trị, xã hội, chuẩn mực đạo đức, sức khỏe cộng đồng... “Hiện tượng tôn giáo mới” từ thập niên 60 của thế kỉ XX trở lại đây có những xung đột giá trị đạo đức chuẩn mực là khá cao, gây phức tạp hơn trong quan hệ quốc tế về tôn giáo, nhân quyền.
Vấn đề ứng xử, chính sách với hiện tượng tôn giáo mới là rất khó. Cần cẩn trọng xem xét từng bước công nhận họ về pháp lý, thay cho thái độ “lờ đi” trước đây. Đó là cả một quá trình nhận thức, là một bước chuyển biến mới rất tích cực. Các hiện tượng tôn giáo mới, đạo mới, đạo lạ khi xuất hiện thường ít người tin, theo, tồn tại thời gian ngắn [3]. Sự xuất hiện, gia tăng đạo mới, đạo lạ đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, trật tự công cộng nước ta. Tuy nhiên cũng có đạo lạ có ảnh hưởng tích cực nhất định, thể hiện “uống nước nhớ nguồn”, tham gia từ thiện xã hội, phê phán nạn tham nhũng, bài trừ mê tín dị đoan trong đời sống tôn giáo …
5. Một số giải pháp đề xuất
Để xây dựng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh trong nhân dân và thực hiện tốt công tác quản lý tôn giáo, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền đối với các hoạt động của tôn giáo nói chung và hoạt động của hiện tượng này nói riêng, khắc phục tình trạng thiếu tập trung thống nhất.
Thứ hai, thay đổi cách nhận diện, đánh giá khách quan về hiện tượng tôn giáo mới , “đạo lạ”, và hoạt động của họ; phân tích rõ nguyên nhân, ảnh hưởng của các loại hình này đối với văn hóa dân tộc, mối liên hệ với các hình thức, tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống.
Thứ ba, quan tâm đầu tư đến những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Thứ tư, đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho nhân dân, vận động quần chúng và các tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo.
Thứ năm, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với “đạo lạ” hay “hiện tượng tôn giáo mới” ở nước ta.
Thứ sáu, kiên quyết đấu tranh, loại trừ những hình thức hoạt động trái pháp luật của hiện tượng tôn giáo mới, “đạo lạ” trong xã hội có tính chất cực đoan, nguy hiểm, đi ngược lại văn hóa dân tộc.
6. Kết luận
Sự ra đời, phát triển cùng những hoạt động đa dạng, phức tạp của hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam đã ảnh hưởng rất lớn đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, rất cần sự chung tay trong công tác quản lý, phân loại các hiện tượng tôn giáo mới khác nhau để ứng xử cho phù hợp, để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; ổn định an ninh, trật tự xã hội; Tăng cường đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã đề ra trong thời kỳ mới.
Tài liệu tham khảo
1. Ngô Hữu Thảo, Đạo lạ ở Hà Nội hiện nay và những vấn đề đặt ra, NXB. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014, tr.19.
2. https://thanhtravietnam.vn/dan-toc-ton-giao/su-can-thiet-cua-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-cac-hinh-thuc-dao-la-ta-dao-196095.html đăng ngày 25/06/2021của tác giả Kim Ngân.
3. Nguyễn Thanh Xuân, (2020), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB. Tôn giáo, tr.219, tr.220.