Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Những bàn tay giữ nhịp mã la

Đinh Hằng - 19:07, 29/10/2026

(DTTG) - Trong đời sống văn hóa của người Raglai, mã la là loại chiêng bằng, không có núm, được làm bằng đồng. Đây là nhạc cụ gắn với nhiều nghi lễ, lễ hội quan trọng của cộng đồng, trong đó có lễ ăn đầu lúa, lễ bỏ mả. Mã la được đồng bào coi là vật thiêng và chỉ có âm thanh của nó mới có thể thay lời nói của con người để giao tiếp với thần linh.

Các nghệ nhân dân tộc Raglai biểu diễn mã la tại Lễ hội Ka-tê tháp Pô Klong Garai
Các nghệ nhân dân tộc Raglai biểu diễn mã la tại Lễ hội Ka-tê tháp Pô Klong Garai

Điều làm nên nét đặc biệt của mã la trước hết là ở cách diễn tấu theo bộ. Một bộ có thể gồm 2 hoặc nhiều chiếc tùy từng vùng. Ví dụ, bộ mã la của người Raglai ở Ninh Thuận (cũ) phải có ít nhất 2 cái mẹ - con; nhưng người Raglai ở Khánh Hòa (trước khi sáp nhập) thì bộ mã la phải từ 3 chiếc trở lên, tượng trưng cho các thành viên trong gia đình gồm: mẹ - cha - con.

Mỗi chiếc mã la đảm nhiệm một âm thanh và vị trí riêng, phản ánh rõ dấu ấn của chế độ mẫu hệ trong văn hóa Raglai. Chiếc mã la “mẹ” có âm trầm nhất, giữ nhịp và thường là chiếc cất tiếng trước; sau đó âm thanh từ các mã la “con” lần lượt hòa theo, theo thứ tự con cả, con giữa đến cuối cùng là con út có âm thanh cao nhất. Có ý kiến cho rằng trong gia đình mẫu hệ, con gái út là người có quyền được ở và thừa hưởng tài sản của cha mẹ để lại nên chiếc mã la biểu thị cho con gái út có âm cao, vang hơn các mã la biểu thị cho các chị gái.

Người Raglai coi mã la là cầu nối giữa con người với thần linh, là vật thiêng. Nếu muốn nói chuyện hoặc cầu xin thần linh ban cho ân huệ đều phải tấu mã la. Mỗi chiếc được coi như một vị thần và chỉ có âm thanh của nó mới có thể thay lời nói của con người để giao tiếp với thần linh.

Đánh mã la không dùng dùi mà dùng tay. Đây là kỹ thuật quan trọng mà người mới học phải tập từ đầu. Theo các tài liệu nghiên cứu, người chơi nắm bàn tay phải lại để đánh vào mặt mã la. Bàn tay còn được sử dụng để điều khiển độ vang và sắc thái của âm thanh. Vì thế, đánh mã la không đơn giản là gõ vào mặt đồng để tạo âm thanh. Người chơi phải biết lúc nào đánh mạnh, lúc nào đánh nhẹ, khi nào để âm ngân dài… Nhìn chung âm thanh vang lên từ màn tấu mã la dịu dàng, mềm mại mà không rạo rực, bỏng cháy như các điệu cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên.

Đặc biệt, không thể đánh một chiếc mã la theo cách tách rời khỏi cả bộ. Vì vậy, nét đặc biệt của mã la còn ở cách người Raglai dùng đôi tay và phối hợp cùng nhau để tạo nên âm nhạc cộng đồng. Mỗi người chơi phải nhớ phần của mình và lắng nghe người bên cạnh. Chiêng “mẹ” giữ nhịp, những chiếc chiêng “con” hòa âm; nếu một người đánh sai nhịp hoặc vào sai chỗ, cả dàn chiêng mã la sẽ mất đi sự hài hòa. Bởi vậy, học đánh mã la cũng là học cách phối hợp, lắng nghe và giữ nhịp cùng cộng đồng.

Mã la được diễn tấu theo hình thức tập thể, nhiều người cùng đảm nhiệm những phần khác nhau để tạo nên tổng thể âm nhạc. Khi diễn tấu trong nghi lễ, đội mã la còn phải tuân thủ những quy định riêng. Chẳng hạn, trong một số nghi thức của lễ bỏ mả, đội hình diễn tấu di chuyển theo vòng tròn, theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Âm thanh của mã la không tách khỏi động tác múa, bước chân và không gian nghi lễ mà tạo thành một chỉnh thể văn hóa.

Mã la của dân tộc Raglai không có sự phân biệt khi sử dụng, cả nam và nữ, già và trẻ đều có thể diễn tấu. Người Raglai có nhiều bài mã la khác nhau. Có những bài dành cho nghi lễ, có bài dùng trong phần hội. Trong lễ cúng ăn đầu lúa, ngoài các lễ vật như cơm mới, ngô, lợn, gà, rượu cần… nhất định phải có tiếng mã la. Thông thường, có 2 bài mã la được sử dụng chính trong lễ này là “da-a Pô trun” (mời Ngài xuống) và “Dam dara” với tiết tấu vui hơn. Trong lễ hội, tiếng mã la vang lên cùng tiếng trống, điệu múa và những lời chúc mừng một vụ mùa bội thu không chỉ tạo không khí vui tươi, mà còn góp phần kết nối các thành viên trong cộng đồng.

Vì vậy để đánh được mã la, chỉ biết kỹ thuật gõ là chưa đủ. Người học phải nhớ bài, hiểu hoàn cảnh sử dụng từng bài và biết phối hợp với những người cùng diễn tấu. Đây là vốn tri thức được truyền chủ yếu từ nghệ nhân, người lớn tuổi cho lớp trẻ bằng cách cầm tay chỉ việc và luyện tập nhiều lần. Hiện nay, tại tỉnh Khánh Hòa, các nghệ nhân vẫn tổ chức truyền dạy mã la cho thanh thiếu niên người Raglai. Nhiều người trẻ từ chỗ chưa biết cách cầm, cách đánh đã có thể chơi thành thạo một số bài cổ và phân biệt bài dùng trong từng lễ hội.

Mã la là một phần hồn cốt trong văn hóa Raglai, là vật thiêng được cộng đồng trân quý, gìn giữ qua nhiều thế hệ. Tiếng mã la không chỉ góp phần nhận diện bản sắc dân tộc Raglai mà còn góp phần làm giàu thêm sự đa dạng, phong phú của văn hóa và nền âm nhạc Việt Nam.