Từ khóa: Nữ quyền; Tính nữ; Đời sống tín ngưỡng dân gian; Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam cho thấy, tín ngưỡng và tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền văn hóa của dân tộc. Việt Nam là một quốc gia châu Á đã chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo với tư tưởng chủ đạo đề cao vai trò của nam giới. Ở những quốc gia này, người phụ nữ bị đẩy ra khỏi chính quyền, văn học chính thống, ra khỏi vai trò chủ đạo trong một số sinh hoạt tín ngưỡng tiêu biểu như thờ cúng Tổ tiên. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ở Việt Nam, nam giới được đề cao, coi trọng trong các hoạt động chính trị, xã hội, gia đình thì trong các hình thái sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người phụ nữ không bị xem thường, mà còn được tôn trọng, đề cao và tôn vinh. Sự tôn vinh còn được người dân Việt đưa thành một tín ngưỡng dân gian tiêu biểu - tín ngưỡng thờ Mẫu.
Trong hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của dân Việt, nữ giới là đối tượng được tôn thờ và làm chủ thế giới siêu nhiên. Việc trao quyền cho người phụ nữ trong một xã hội theo hệ thống tôn ti nam quyền đã trở thành một điều mới mẻ và khá độc đáo trong đời sống tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu các thư tịch cổ, khảo sát và điền dã ở một số địa phương có các cơ sở thờ Mẫu, nghiên cứu này tập trung làm rõ nguyên nhân, cơ chế cho thấy tính nữ lại nổi trội, quyền uy trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của người Việt; từ đó đánh giá và xác định các giá trị về bình đẳng giới trong đời sống tâm linh đa dạng của người Việt Nam.
2. Tính trội của yếu tố nữ và nữ quyền trong lịch sử Việt Nam
Lễ dâng hương tưởng nhớ, tri ân công đức Tổ Mẫu Âu Cơ theo nghi thức truyền thốngDựa trên tư liệu khảo cổ học thì nhận thức của loài người về mẹ có những bằng chứng đầu tiên vào khoảng trên dưới 50 nghìn năm trước. Các nghiên cứu đã khám phá các xã hội matriarchal (có sự thống trị của phụ nữ) và hình tượng nữ thần trong văn hóa tiền sử. Ở Việt Nam, vào khoảng 4.000 năm trước, đồ gốm thể hiện bầu sữa mẹ xuất hiện trong các làng trồng lúa, sớm đã xác nhận vị trí được tôn vinh của mẹ. Cho đến khi xã hội phát triển đến giai đoạn tiền nhà nước và nhà nước sơ khai Âu Lạc (văn hóa khảo cổ Đông Sơn) vai trò của mẹ và kèm theo cả nữ quyền vẫn còn rất đậm nét.
Tính trội đầu tiên của yếu tố nữ và nữ quyền ở Việt Nam là hình tượng Mẹ Âu Cơ sinh sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai. Ngọc phả lưu tại đền Quốc Mẫu Âu Cơ, Âu Cơ cùng các con đi đến đâu cũng thu phục được lòng dân, bà dạy dân cấy lúa, làm bánh, trồng dâu, nuôi tằm dệt vải. Nếu xét ở góc độ trong mối tương quan với nam giới thời kỳ này, người phụ nữ đã chiếm ưu thế hẳn.
Trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam đã có vai trò quan trọng, đặc biệt trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Điển hình là Hai Bà Trưng cùng nhiều thuộc tướng là phụ nữ đã phất cờ nổi dậy chống quân xâm lược Đông Hán với mục tiêu: “Một xin rửa sạch nước thù. Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba kẻo oan ức lòng chồng. Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này”. Sử gia Lê Văn Hưu nhận định: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở lĩnh ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay”. Một người nữa, mẹ của Hai Bà Trưng, bà Man Thiện (Man Hoàng hậu) có vai trò tổ chức lực lượng, giao thiệp với các quan lang các vùng xung quanh ủng hộ con khởi nghĩa. Điều đáng chú ý, phần lớn các tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa đều là nữ tướng. Tiếp nối truyền thống đó, khởi nghĩa của Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) cũng coi là điển hình trong tính trội của yếu tố nữ và nữ quyền ở Việt Nam trong lịch sử. Bà là người có sức khỏe, có chí lớn và giàu mưu trí. Năm 19 tuổi, bà đã cùng anh trai tập hợp nhiều nghĩa chuẩn bị khởi nghĩa, chống lại chính sách đô hộ hà khắc của nhà Ngô.
Sự đứt đoạn về nữ quyền sau đó có nguyên nhân cơ bản là ảnh hưởng của hệ tư tưởng phụ quyền, bề dưới phục tùng bề trên của Nho giáo được các thế lực xâm lược phương Bắc áp đặt trong thời gian dài đạo cương thường của Nho giáo là bắt bề dưới phải phục tùng bề trên tạo nên thói gia trưởng biểu hiện trong gia đình qua quyền quyết định của người cha, người chồng “phu xướng phụ tòng” (chồng đề xướng, vợ phải theo).
Tuy nhiên ở những giai đoạn sau, dưới các triều đại phong kiến độc lập, một số nhân vật nữ cũng đã thể hiện quyền uy của mình, như: Nguyên phi Ỷ Lan (Linh Nhân Hoàng thái hậu); Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung Tuyên Từ Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh. Dù không còn thể hiện quá vai trò trong chế độ phụ quyền, nữ quyền của các nhân vật này là không hề nhỏ.
3. Nữ quyền trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Việc tôn phong và thờ phụng các vị thần nữ đã có từ rất lâu đời và là một hiện tượng khá phổ biến. Nghiên cứu các thư tịch cổ và sinh hoạt tín ngưỡng cho thấy nữ giới là đối tượng được tôn thờ và làm chủ thế giới siêu nhiên. Các nhà nghiên cứu văn hóa của người Việt thiên về nữ giới với các tên gọi như: Mẫu/ Bà/ Mẹ/ Nữ, với những biểu hiện thiên về “tính nữ” được ghi nhận.
Trong danh sách các vị thần của người Việt, những vị thần gắn với bản thể của vũ trụ đều mang yếu tố nữ như: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (bà Kim, bà Mộc, bà Thủy, bà Hỏa), nữ thần Mặt Trời, nữ thần Mặt Trăng. Các hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp cũng được thánh hóa thành “nữ” và Phật hóa thành “Tứ pháp” (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) với hình dạng người phụ nữ. Hiện tại, có hơn 1.200 đền, miếu, phủ là cơ sở thờ tự của tín ngưỡng thờ nữ thần, chưa kể đến hệ thống chùa Phật giáo có điện thờ Mẫu.
Các Mẫu phản ánh vai trò, vị trí của người phụ nữ trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước: Mẫu Âu Cơ tạo dựng dòng giống Lạc Việt, Mẫu Liễu Hạnh khuyến thiện, trừng phạt ác; bà Chúa Xứ, bà Đen, bà Thiên Yana chuyên lo chữa bệnh, đuổi quỷ, trừ tà. Dù xuất thân là nhân vật lịch sử có thật hay huyền thoại, các nữ thần đều được lịch sử hóa gắn với quá trình dựng nước và giữ nước của người Việt.
Trong hệ thống tín ngưỡng đa dạng của người Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu là nơi thể hiện rõ nhất “nữ quyền”. Nữ quyền trong tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện cụ thể ở những khía cạnh sau đây:
Một là, chủ thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu đều là nữ giới. Nghiên cứu hệ thống tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ và Tứ phủ có sự bổ sung thêm Mẫu Thượng ngàn. Các điện thờ Mẫu từ miền Bắc, miền Trung và miền Nam đều thờ chủ thần là nữ như: Mẫu Liễu Hạnh (phủ Dày); Thiên Y A Na Thánh Mẫu (cụm tháp Bà); Linh Sơn Thánh Mẫu (núi Bà Đen); Bà Chúa Xứ (miếu bà Chúa Xứ).
Hai là, đối tượng được tôn thờ chủ yếu là nữ giới. Mặc dù, hệ thống ban thờ các quan (nam) cũng có nhưng số lượng ít hơn nhiều so với ban thờ các cô, các bà. Hệ thống ban thờ tập trung vào Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ phủ chầu bà Tứ phủ Thánh Cô.
Ba là, chủ tế (chủ lễ) của tín ngưỡng thờ Mẫu trước đây đều là phụ nữ, thường được gọi là các cô đồng hoặc bà đồng. Hiện nay, xuất hiện thêm hầu đồng là nam giới nhưng những người đàn ông này khi đứng giá hầu đồng, làm lễ cũng phải trang điểm cho giống với phụ nữ.
Bốn là, tín đồ của tín ngưỡng thờ Mẫu cũng chủ yếu là phụ nữ. Phụ nữ là những người có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn, là người có nhiệm vụ coi sóc “âm phần” (các nghi lễ thờ cúng người chết) của cả gia đình, họ tộc. Với tâm lý về sự che chở của nguời mẹ (Mẫu), họ thường đến “xin” ở “ban Mẫu” để càu xin bình an, tai qua nạn khỏi , tiền tài, con cái.
Với những giá trị to lớn về mặt văn hóa, năm 2016, tín ngưỡng thờ Mẫu được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tín ngưỡng này là một loại hình rất đặc sắc thể hiện quyền uy của người phụ nữ cả ở đời sống trần gian và trong sự kiến tạo thế giới.
4. Nguyên nhân của nữ quyền trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Thứ nhất, lịch sử phát triển của văn hóa Việt Nam là một quá trình điều chỉnh từ chế độ Mẫu hệ (Mẫu quyền) sang chế độ Phụ hệ. Tổ chức xã hội Mẫu hệ và chế độ Mẫu quyền đã tồn tại khá lâu ở Việt Nam nên nó được bảo lưu và phản ánh rõ trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Trong một số dân tộc thiểu số như; Chăm, Ê-đê, Gia-rai, do ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của Nho giáo, họ vẫn duy trì chế độ Mẫu hệ, chủ động trong hôn nhân, chồng về ở nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ.
Thứ hai, do những điều kiện tự nhiên gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh của xã hội nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa, vai trò của phụ nữ được đề cao, thì việc nhân thần hóa tự nhiên dưới dạng nữ thần là phổ biến. Các nữ thần Mặt Trời, nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp là kết quả lối tư duy tổng hợp và biện chứng của người dân mang trong mình tư tưởng của nền văn hóa gốc nông nghiệp.
Thứ ba, vai trò nội tướng trong xã hội phụ quyền. Mặc dù đã có sự ảnh hưởng lớn từ chế độ Phụ quyền nhưng với sự phân công nam ngoại nữ nội (nam lo việc bên ngoài, nữ lo việc nội trợ, gia đình) đã hàm nghĩa phụ nữ là chủ gia đình hay còn gọi là “nội tướng”, cai quản tài chính, kinh tế, gia sản và có quyền thừa kế. Với vị trí quan trọng về mặt kinh tế, văn hóa của người Việt vẫn thiên sang phần “tính nữ”, xã hội không quá bắt ép người phụ nữ phải tuân thủ một cách cứng nhắc lý thuyết “tam tòng”, “tứ đức” của Nho giáo; không lên án hành vi tái giá; người phụ nữ vẫn được phép học hành.
Thứ tư, tâm lý, ý thức đề cao yếu tố sinh - dưỡng - dục. Người Việt đều là thuộc tính của mẹ (Mẫu). Xét về bản chất, tự nhiên và tính nữ có những đặc điểm chung cơ bản, đó là “sản sinh, bảo trữ và che chở”. Tư tưởng này phát sinh tín ngưỡng phồn thực, một tín ngưỡng suy bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người.
Như vậy, với những chứng cứ về lịch sử, kinh tế, văn hóa, ý thức cho thấy vào thời kỳ khai thiên lập địa và nhiều thế kỷ sau này, vị trí, vai trò của người phụ nữ đã được khẳng định trên nhiều lĩnh vực, không những thế, họ còn được tôn vinh, tôn thờ như những bậc thánh thần có một sức mạnh siêu nhiên, sáng tạo ra vũ trụ, muôn loài.
5. Giá trị của nữ quyền trong tín ngưỡng dân gian
Khi hình ảnh người phụ nữ được tôn vinh, tôn thờ như những bậc thánh thần trong thế giới tâm linh cho thấy tinh thần nữ quyền được thể hiện rõ nét. Thực chất của việc tôn vinh những người phụ nữ trong lịch sử thành thánh thần cho thấy tinh thần bình đẳng giới, thậm chí cho thấy vai trò vượt trội của người phụ nữ trong nhiều lĩnh vực, trong đó sinh hoạt tâm linh chiếm vị trí chủ đạo. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt phản ánh tính phong phú trong đối tượng thờ cúng: các nữ thần có thể là nhân thần, có thể là nhiên thần. Nữ thần có thể thuộc tầng lớp quyền quý nhưng cũng có những nữ thần xuất thân từ tầng lớp bình dân, nghèo khổ cũng được tôn vinh.
“Nữ quyền” trong tín ngưỡng dân gian của người Việt cũng phản ánh đầy đủ tính khoan dung, cởi mở của người Việt trong quá trình giao lưu và tiếp thu các giá trị văn hóa ngoại lai, khi tôn thờ cả nữ thần địa phương và ngoại lai đại diện cho các tộc người, các vùng văn hóa khác nhau.Việc tôn thờ nữ thần đã định hướng con người tới lòng bao dung, vị tha như người mẹ (Mẫu).
Tín ngưỡng thiên về tính nữ thể hiện rõ những yếu tố trên hết của người phụ nữ Việt Nam đảm đang, chung thủy, yêu chồng, thương con, biết hy sinh bản thân mình cho gia đình. Phía sau sự tôn vinh, ngưỡng vọng, tôn thờ ấy chính là khát vọng bình đẳng, phồn thực, no đủ, phồn vinh mà Mẫu là biểu tượng điển hình.
Chế độ phụ quyền xuất hiện và kéo dài hàng nghìn năm ở Việt Nam đã trói buộc người phụ nữ trong một trật tự xã hội, một lễ giáo gia phong khắt khe, đôi khi cực đoan đã đè nặng lên đời sống vật chất và tinh thần của phái nữ. Tín ngưỡng thờ nữ thần đã góp phần khỏa lấp, vỗ về, an ủi cho sự tủi hờn về thân phận thấp hèn của người phụ nữ và là điểm tựa tinh thần to lớn để nâng đỡ người phụ nữ trong thế giới hiện thực. Tín đồ cảm thấy an nhiên, tự tại trước nữ thần, bởi nữ là biểu trưng của lòng bác ái, khoan hòa, hiền dịu; hình tượng Mẫu không chỉ chở che, an ủi mà còn thể hiện rõ quyền uy của mình trong việc trừng phạt cái ác. Do đó, vị thế của Mẫu có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh của người Việt
6. Kết luận
Với những kết quả nghiên cứu trên đã cho thấy thấy, yếu tố âm, yếu tố nữ, tính nữ được thể hiện đa dạng trong hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam. Có khi họ là nhiên thần: là mẹ đất, mẹ rừng, mẹ biển, mẹ của sự sinh sôi nảy nở; nhưng có khi họ là những con người có thật trong lịch sử (nhân thần). Dù là “nhiên thần” hay “nhân thần” thì tất cả họ đều được Nhân dân ở mọi miền đất nước tôn kính thờ phụng. Ngay cả trong các chùa là nơi thờ Phật, người dân Việt cũng đã dành hẳn một gian (ban) để thờ Mẫu. Tất cả điều này đã tạo nên một bức tranh tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam đậm yếu tố nữ. Đó cũng chính là một đặc điểm nổi bật về nữ quyền của tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam khác với rất nhiều nước trên thế giới.
Tài liệu tham khảo
1. Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ (2021), Man Thiện Hoàng hậu - người mẹ của hai nữ tướng đầu tiên trong lịch sử, https://baotangphunu.com/man-thien-hoang-hau-nguoi-me-cua-hai-nu-tuong-dau-tien-trong-lich-su/ [truy cập ngày 01/04/2025].
2. Đại Việt Sử ký Toàn thư (1697), Bản in Nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), bản, dịch 2004, Vol1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3. Đào Mai Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc (1984), Các nữ thần Việt Nam, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.
4. Trần Văn Giàu (1983), Triết lý và tư tưởng, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Thị Thanh Mai (2013), Tư tưởng đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta hiện nay, https://lichsu.tnus.edu.vn/chi-tiet/342-Tu-tuong-dao-duc-Nho-giao-va-anh-huong-cua-no-o-nuoc-ta-hien-nay [truy cập ngày 01/4/2025].
6. Thanh Nhàn (2014), Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
7. Phan Ngọc (2002), Nhận diện văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học.
8. Nguyễn Lan Phương (2018), Di tích Lịch sử Văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
9. Trúc Phương (2020), Khởi nghĩa Hai Bà Trưng: Thức tỉnh tinh thần dân tộc, https://cand.com.vn/Phong-su-Tieu-diem/Khoi-nghia-Hai-Ba-Trung-Thuc-tinh-tinh-than-dan-toc-i551370 [truy cập ngày 28/3/2025].
10. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục Hà Nội.
11. Ngô Đức Thịnh (2014), Đạo Mẫu Việt Nam, Nxb. Tôn giáo.
12. Thanh Hòa Tử (tái bản 2021), Hội Chân biên, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội.
13. Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội.
14. Nguyễn Việt (2023), Nam hay nữ quyền trong thời kỳ Đông Sơn? (kỳ 3): Đến thời Đông Sơn, nhiều thứ vẫn luôn từ mẹ, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3101/74240/nam-hay-nu-quyen-trong-thoi-ky-djong-son-ky-3-djen-thoi-djong-son-nhieu-thu-van-luon-tu-me.html [truy cập ngày 27/3/2025].
15. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2013), Về sự xác lập ý thức phái tính và nữ quyền trong văn học Việt Nam truyền thống, Tạp chí Giáo dục và xã hội