Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Phật hoàng Trần Nhân Tông - Một nhân cách lớn của dân tộc Việt Nam

ThS. Trần Quốc Hoàn - 16:50, 06/03/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Phật giáo Việt Nam thời nhà Trần, cụ thể là thời Phật hoàng Trần Nhân Tông, không chỉ đóng vai trò là một tôn giáo phổ biến, mà còn trở thành nền tảng tư tưởng chính thống, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Với vị thế trung tâm như vậy, Phật giáo thời Trần phát triển huy hoàng, thường được các sử gia, nhà nghiên cứu từ trước đến nay gọi là thời kỳ quốc giáo, tức là tôn giáo chính thống và có ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với triều đình và Nhân dân. Sự phát triển mạnh mẽ, đồng bộ và nhất quán của Phật giáo thời kỳ này được xem là đỉnh cao chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Công cuộc hoằng pháp vĩ đại của Trần Nhân Tông là kim chỉ nam cho công tác hoằng pháp trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Phật giáo thời Trần; Trần Nhân Tông; Hoằng pháp; Thời đại mới

1. Đặt vấn đề

Trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam, thời Trần (1225-1400) là thời kỳ phát triển huy hoàng, rực rỡ cả về các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, giáo dục và nghệ thuật,... Trong giai đoạn này, thời đại nhà Trần có các vị vua vị tướng tài như: Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ... và không thể không nhắc đến Phật hoàng Trần Nhân Tông, một bậc minh quân đồng thời là vị Tổ sư khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm mang đậm bản sắc dân tộc. Tư tưởng và hành động của Ngài không chỉ định hình sâu sắc đời sống tâm linh đương thời mà còn chứa đựng những giá trị vượt thời gian.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại với những biến chuyển nhanh chóng, việc vận dụng trí tuệ Phật hoàng Trần Nhân Tông vào công tác hoằng pháp trở nên vô cùng cấp thiết. Việc áp dụng tư tưởng của Ngài, đặc biệt là tinh thần nhập thế (có nghĩa là tham gia vào đời sống xã hội, hòa mình vào xã hội và đóng góp vào sự phát triển chung của dân tộc, đất nước), “cư trần lạc đạo” (mang ý nghĩa sống ở thế gian mà vẫn vui với đạo pháp), sự thống nhất đạo đời, lòng từ bi và trí tuệ, từ đó đề xuất những phương hướng ứng dụng sáng tạo, phù hợp với xu hướng thời đại mới, nhằm lan tỏa Chính pháp hiệu dụng, viên dung.

Chùa Đồng Yên Tử, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo
Chùa Đồng Yên Tử, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo

2. Anh hùng chống ngoại xâm

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm (1258 - 1308) ông là con trai trưởng của Trần Thánh Tông là vị vua thứ hai của nhà Trần nước Đại Việt và nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu. Cách ngày nay 747 năm (gần 10 thế kỷ), ngày 22-10 năm Mậu Dần (1278) Trần Khâm được cha truyền ngôi. Vua cha Thánh Tông được suy tôn làm Thái Thượng hoàng và cùng trị vì đất nước với Nhân Tông cho đến khi mất năm 1290.

Đức vua Trần Nhân Tông lên ngôi trong lúc nền độc lập nước Đại Việt bị đe dọa nghiêm trọng. Vì lý do, ở phương Bắc, quân Nguyên - Mông đã chinh phục gần như trọn vẹn Nam Tống, nước Đại Việt ở phương Nam là mục tiêu tiếp theo. Ngay sau khi ông lên ngôi, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt đã sai tướng Sài Thung sang lấy cớ Trần Nhân Tông “Không xin mệnh mà tự lập” để ép vua Trần sang triều kiến. Sứ giả Sài Thung được vua Trần Nhân Tông đối đãi tử tế, nhưng kiên quyết không sang chầu. Đất nước đứng trước hiểm họa bị xâm lược từ quân Nguyên - Mông, hoàng đế đã ban nhiều chính sách với nỗ lực nhằm phát triển kinh tế, đảm bảo sự ổn định về đoàn kết trong nước.

Do sứ giả Sài Thung không thuyết phục vua tôi nhà Trần, nên tháng 2/1285 Hoàng tử võ tướng Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem binh thuyền sang xâm lược Đại Việt. Dưới sự lãnh đạo tài tình của nhà vua và Trần Quốc Tuấn đánh trả quyết liệt, đánh bại đẩy lùi cuộc tấn công của Nguyên - Mông. Vào cùng năm tháng 7/1285, nhà vua Trần Nhân Tông đã phóng thích các tù binh người Chiêm Thành (họ bị quân Nguyên bắt tòng quân khi Toa Đô xâm lược nước Chiêm Thành 1283) về nước. Danh sách tù binh quân Nguyên – Mông chính quy cũng được tha bổng trở về quê hương vào mùa xuân 1286.

Với dã tâm không từ bỏ quyết xâm chiếm nước Đại Việt thêm một lần nữa, tháng 12/1287, nhà Nguyên chia quân thủy - bộ và chia ra 3 (ba) đạo quân tiến thẳng vào Đại Việt. Không lâu sau đó, ngày 19/4/1288, quân Nguyên đã bị quét sạch hoàn toàn khỏi nước Đại Việt.

Lịch sử ghi chép lại, trong bộ Khâm Định Việt sử Thông Giám Cương mục đã nhận xét: “Lúc bấy giờ nhà Nguyễn mới nổi lên, khí thế rất ngang ngược, nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên, được các đời vua như Thái Tông, Thánh Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước, chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào”.

Dấu mốc đáng nhớ về thời gian, tháng 10 âm lịch năm 1299, sau khi nhường ngôi cho vua con Trần Anh Tông, vua cha Trần Nhân Tông rời kinh đô đến núi Yên Tử (Quảng Ninh), lấy pháp danh Hương Vân Đại Đầu Đà và tu hành theo thập nhị đầu đà (mười hai điều khổ hạnh). Ngài còn dùng đạo hiệu khác nữa Trúc Lâm Đại Đầu Đà hay còn gọi Trúc Lâm Đại Sĩ và Giác hoàng Điều ngự.

Sách sử viết tiếp, trong lịch sử hiến chương loại chí (là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam, được Phan Huy Chú soạn từ năm 1809-1819, ghi chép toàn diện các mặt lịch sử, xã hội, văn hóa, phong tục, thể chế qua các triều đại từ thời Hồng Bàng đến Triều Lê), Phan Huy Chú có nhận xét về đức vua Trần Nhân Tông: “Tính vua nhân từ, có trí lược, thương dân, ơn huệ cố kết lòng dân. Đời làm vua, quân Nguyên hai lần xâm phạm. Vua chọn tướng, rèn quân rồi bình được giặc lớn. Cái công trùng hưng (có nghĩa là sự phục hồi, tái hưng thịnh cơ nghiệp, quốc gia, phồn vinh, phát triển) rực rỡ hơn trước. Sau khi nhường ngôi, vua lưu tâm kinh điển nhà Phật, xây am Thiên Kiến, đúc đỉnh Phổ Minh, thờ Phật rất chăm. Về sau đi tu ở núi Yên Tử rồi mất ở am Ngọa Vân”.

3. Đức vua Trần Nhân Tông đóng góp về pháp luật

Sau khi chiến thắng toàn diện quân Nguyên Mông, với chính sách là đại xá cho Nhân dân cả nước miễn toàn bộ tô thuế cho những vùng đã trải qua chiến tranh và giảm tô thuế cho các vùng khác trong cả nước. Đất nước vừa trải qua cơn binh lửa đức vua Trần Nhân Tông người đứng đầu quốc gia Đại Việt thời kỳ đó đã ý thức rõ được việc cần tập trung lại để xây dựng đất nước ổn định xã hội dân sinh, phát triển đất nước phồn thịnh. Khi giang sơn sạch bóng quân thù, thì việc thiết lập và xây dựng bộ luật khung chính là căn cứ là nền tảng để xây dựng quốc gia với phương châm “lấy dân làm gốc” đã được Vua Trần Nhân Tông thực hiện triệt để trong chủ trương xây dựng pháp luật pháp lý.

Trong sách, Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “Ngày 27/2 vua hồi kinh mùa hạ tháng 4 năm Mậu Tý - 1288, tùy theo tình hình mà miễn giảm và mức độ khác nhau, trị tội những người đầu hàng giặc. Nếu phạm tội được miễn tội chết nhưng phải vận chuyển gỗ đá xây dựng cung điện để chuộc tội, quan viên phạm tội thì tùy nặng nhẹ và đưa ra cách xử lý khác nhau. Đặc biệt có hai làng Ba Điểm và Bàng Hàng vì trong cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông người dân hai nơi này đã không chống giặc mà nhanh chóng đầu hàng giặc, khiến chúng dễ dàng tiến sâu vào lãnh thổ nước ta. Với tình huống cả làng đều phạm tội khi đầu hàng giặc, đức vua Trần Nhân Tông đã có hình thức trị tội khéo léo nhân đạo mà vẫn giữ sự nghiêm khắc phép nước, bằng cách bắt quân dân ở 2 (hai) làng Ba Điểm và Bàng Hàng phải làm binh thang mộc, cấm không được gia nhập vào hàng quan lại, ngoại trừ tể thần (một chức quan cao nhất thời phong kiến, thay mặt vua cai quản chính sự quốc gia) thì ban cho làm sai sử hoàng (Thái Thượng hoàng).

Đối với bộ máy hành chính, nhà vua Trần Nhân Tông tổ chức lại, người làm quan là bậc cha mẹ của Nhân dân, phải yêu dân như con, ông đã tốn rất nhiều công sức trong việc lựa chọn quan văn về các lộ (đơn vị hành chính thời phong kiến Việt Nam dưới thời nhà Trần, là một cấp tổ chức địa phương dưới trấn và trên châu, phủ), cai trị quốc gia theo pháp luật, từ đó tạo điều kiện sản xuất tốt và cuộc sống an cư, đem lại công bằng cho Nhân dân. Đối với các quan lại nhà vua thiết lập ban hành cơ quan kiểm tra, thanh tra, giám sát nhằm thực hiện bộ máy quan lại liêm chính, trong sạch. Khi phát hiện quan lại lợi dụng quyền hạn, lợi dụng chức vụ nhũng nhiễu hạch sách Nhân dân, dẫn đến Nhân dân oán than, khiến đời sống khó khăn thì đức vua cũng có cách xử lý vừa nghiêm khắc lại rất khéo léo, mở rộng lòng dân, uốn chỉnh sống thiện, hướng con người quay về bản chất thật thà. Bởi đức vua cho rằng bản chất tham lam chỉ là cái nhất thời do điều kiện khách quan làm lu mờ, ám bản chất lương thiện của con người, nếu có phát hiện kịp thời răn dạy, uấn nắn chỉnh đúng cách, tạo cho họ cơ hội sửa sai thì con người sẽ hoàn toàn có khả năng tái hoàn đức nhân.

4. Thực thi pháp luật có lý có tình thu phục được lòng dân

Vào năm 1292, vụ án Phí Mạnh là An Phủ sử Diễn Châu mà tham ô, ghi chép trong sách Toàn thư. Vua ra lệnh triệu về kinh xử phạt, bị đánh trượng nhưng sau đó cho trở về Diễn Châu giữ nguyên chức vụ. Sau lần bị kỷ luật và phạt đó, vị quan Phí Mạnh đã trở thành người nổi tiếng là thanh liêm, đến nỗi tương truyền trong dân gian có câu: “An phủ Diễn Châu trong như nước”.

Đức vua coi trọng người tài, đã bổ nhiệm một số người có công trạng và đức độ như Phùng Sĩ Chu làm Hành khiển (chức quan trong triều đình, có vai trò cai quản và giám sát công việc); Trần Thì Kiến làm An phủ lộ Yên Khanh (Trần Thì Kiến đã giữ chức vụ An phủ sứ tại Yên Khanh (hay Yên Ninh), sau khi được bổ nhiệm làm An phủ sứ phủ Thiên Trường. Ông được Hưng Đạo vương tiến cử, được bổ nhiệm lần đầu tại phủ Thiên Trường, nơi có hành cung của các vua Trần, sau đó mới chuyển sang phủ Yên Ninh). Bộ máy nhà nước sau chiến tranh dần dần trở lại hoạt động bình thường, những viên chức am hiểu pháp luật và có khả năng tổ chức đời sống của Nhân dân ngày một tốt hơn luôn được trọng dụng. Việc đức vua dùng người tài, đặc biệt hiểu biết pháp luật, pháp lý và quản lý hành chính vừa làm cho công tác quản lý hành chính thông suốt, minh bạch và hiệu quả, vừa có tác dụng hướng dẫn người dân sống theo pháp luật. Triết lý còn mãi giá trị đến ngày nay, cách thức nhà vua nghiêm trị vẫn là bài học còn giá trị sâu sắc đến tận ngày nay, khi không sử dụng người phạm lỗi vào đúng vị trí phạm lỗi để sửa lỗi (bài học này nhấn mạnh rằng việc áp dụng pháp luật phải công bằng, không phân biệt đối xử giữa các giai cấp hay địa vị xã hội, đây là một điểm tiến bộ của học thuyết pháp trị so với các quan niệm cũ).

Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép lại, Chi hậu cục thủ (Chi hậu cục thủ là tên của chư hầu tên gọi chung của các quan lại được vua ban tước hiệu, giữ các chức vụ trong triều đình thời phong kiến ở Việt Nam, tương tự như danh hiệu của một quan đại thần hoặc người đứng đầu một cục, một vụ, một cơ quan trong triều đình nhà Trần giai đoạn 1225-1400). Đỗ Khắc Chung có người em tên Đỗ Thiên Hư từng kiện cáo một người, dù Đỗ Thiên Hư trái cả về tình lẫn lý nhưng viên quan xử án tỏ ra bênh vực. Người bị kiện thấy vua Trần Nhân Tông đang đi ngoại thành, bèn đón kêu oan. Nhà vua đánh giá về viên quan xử án: “Đó là do sợ mà né tránh Đỗ Khác Trung đấy, rồi nhà vua cử ngay Chánh chưởng Nội thư hỏa là Trần Hùng Thao kiêm chức Kiểm pháp quan để điều tra lại (Trần Hùng Thao giữ chức vụ Nội thư hỏa - chức quan thông tin này có vẻ là nhầm lẫn hoặc không có căn cứ lịch sử rõ ràng. Nội thư hỏa có thể là tên một chức quan thời phong kiến, còn kiểm pháp quan là chức năng giám sát tư pháp) cuối cùng Đỗ Thiên Hư phải nhận sai.

Điều đó chứng tỏ bản lĩnh lãnh đạo trị quốc dùng người và quan trọng hơn là thiết lập cơ sở cho chính quyền khi ban hành và thực thi pháp luật. Ngoài những điều nghiêm khắc tuân thủ pháp luật pháp lý, cũng cần có đức bao dung, tạo cơ hội sửa sai cho người phạm pháp hoàn lương và giác ngộ ra điều hay lẽ phải, trở thành người có ích. Mở rộng lòng nhân ái, đưa đạo đức làm cơ sở cho việc hình thành một nền pháp luật nghiêm minh mà nhân ái, kiến tạo đất nước quy củ, có trật tự, thực hiện pháp luật một cách tự giác. Có thể nói đây là minh chứng rõ nhất về sự thể hiện chủ trương chỉ đạo tối cao về việc xét xử, nhân văn trong cách thức xử lý linh hoạt giữa tình và lý, cách nhận diện tình lý giả thật. Bài học rút ra, vua Trần Nhân Tông rất chú trọng đến việc xét xử sao cho không bị oan sai, cũng không bỏ qua tội của kẻ đáng trị tội.

Vua Trần Nhân Tông trong công cuộc kiến thiết, xây dựng nền pháp luật trị quốc còn rất nhiều tài liệu ghi chép trong thư tịch, đặc biệt ghi trong Đại Việt sử ký Toàn thư, để lại hậu thế đến ngày nay những đóng góp lớn lao của Trần Nhân Tông với pháp luật pháp lý nhà Trần được thể hiện qua nhiều phương thức, chủ yếu qua các sắc lệnh, lệnh, chiếu, biểu mà nội dung chủ yếu thông qua các điều luật mà ngày nay nằm trong các bộ luật về Hình sự, Hành chính, Luật Tổ chức cán bộ...đó là hành chính khi ông đại xá cho Nhân dân, miễn tô thuế. Đó là luật tổ chức khi ông cử quan am hiểu pháp luật đi cai trị ở các lộ (là một đơn vị hành chính địa phương có quy mô lớn, đứng sau các cấp hành chính như đạo hoặc trấn, nhưng trước các đơn vị nhỏ hơn như phủ, châu, huyện, xã); xử lý quan tham bằng xử phạt nghiêm minh nhưng tạo cơ hội cho họ sửa chữa lỗi lầm, trở thành quan thanh liêm. Sau khi Vua Trần Nhân Tông nhiếp chính lui về hậu cung làm Thái thượng hoàng, có không ít hơn một lần ông đã phàn nàn với vua con Trần Anh Tông (1276 - 1320) vì vị vua này đã bổ nhiệm quá nhiều quan chức: “Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong quan tước nhiều như thế”. Ngoài ra, ông còn ban hành nhiều luật phòng chống tham nhũng được sơ khởi và hoàn thiện dưới thời Trần Anh Tông.

5. Xây dựng và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm

Dù xuất thân chốn đế vương, nhưng cốt cách thần thái của ngài là bậc xuất thế. Từ khi còn ún nhi miệng không thích thịt cá, thân không thích lụa là gấm vóc, tâm không đắm luyến thú vui thế gian, lớn lên xem cung vàng điện ngọc như đôi dép rách, cho nên ngài đã trốn lên Yên Tử nhưng không thành, đành miễn cưỡng lên ngôi vua. Trị vì 13 năm, trong đó có 6 năm ở ngôi Thái Thượng hoàng, sau đó mới thực hiện được hoài bão xuất gia, làm sơn tăng đầu núi và trở thành Đệ nhất Sư tổ Trúc Lâm Yên Tử, khai sáng - sáng lập ra dòng thiền nước Việt. Vua Trần đã nhẹ nhàng thoát ra khỏi chốn ấy như cởi chiếc áo hạ. Ngài lên ngôi vì lòng hiếu thuận đối với cha già, vì trọng trách đối với đất nước. Gác bỏ tâm tư nỗi niềm riêng, đặt ý muốn của thiên hạ lên trên ý muốn của riêng mình, không phụ lòng cha hoàng, nhà vua Trần Nhân Tông đã xuất sắc lập nên những chiến công oanh liệt để bảo vệ non sông, qua hai cuộc chiến chống Nguyên - Mông lịch sử.

Địa linh nhân kiệt, khí thiêng sông núi đã nhào nặn nên một vị vua mang dòng máu Rồng Tiên, bất khả chiến bại trước mọi thế lực ngoại bang nhưng lại có tấm lòng nhân hậu độ lượng khoan dung, nhân đạo, nhân văn trong việc trị nước an dân, ngài ví như vì sao rực sáng trong bầu trời nghìn năm văn hiến của nước ta. Lịch sử dù có sang trang nhưng công đức và đóng góp của ngài mãi trường tồn trong lòng người dân đất Việt.

Và còn một dòng máu vô hình nữa, dòng máu Thích Tử Như Lai đã âm thầm ẩn lưu trong trái tim của Trần Nhân Tông, nuôi dưỡng một hạnh nguyện và ánh sáng tuệ giác vô biên. Dòng máu ấy làm động lực mạnh mẽ vực nhà vua đạt chốn tột đỉnh của quyền lực, danh vọng, sự nghiệp đế vương...nhưng cũng lắm nỗi thăng trầm của cuộc vô thường bể hóa cồn dâu (Vô thường bể hóa cồn dâu là cách nói tắt của cụm từ “thương hải tang điền”, nghĩa đen là biển xanh biến thành ruộng dâu, và nghĩa bóng là sự thay đổi to lớn, thăng trầm của vạn vật, lịch sử và cuộc đời, chỉ sự vô thường, biến đổi khôn lường của thế gian. Cụm từ này ám chỉ sự biến đổi lớn lao, không thể lường trước của trời đất, khiến con người cảm thấy đời người thật nhỏ bé và ngắn ngủi). Cũng chính dòng máu này đã chuyển hóa nhà vua từ một con người bằng xương bằng thịt đời thường, vượt lên những ham muốn thường tình, trở thành thiền Tăng sống đời thanh đạm, ý chí cao nhàn (Ý chí cao nhàn là ý nghĩa liên quan đến ý chí mạnh mẽ, kiên cường, có khả năng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục tiêu. Từ “cao nhàn” có thể ám chỉ một trạng thái tinh thần vượt trội, vững vàng, không bị lay động bởi thử thách, hoặc ý chí đạt đến sự “cao thượng” và “an nhàn” trong tâm hồn sau khi đã đạt được mục tiêu).

“Thuở bé chưa từng rõ sắc không

Xuân về hoa nở rộn trong lòng

Chúa xuân nay bị ta khám phá

Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng”.

6. Ứng dụng tư tưởng hoằng pháp của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong công tác hoằng pháp hiện nay

Đức Phật đã nỗ lực không ngừng, giáo hóa liên tục trong 45 năm theo Nam truyền và 49 năm theo Bắc truyền, với hơn ba trăm pháp hội, khoảng hơn tám vạn bài pháp, mục đích chính mong muốn mọi người đều có thể hiểu và ứng dụng được Phật pháp vào mọi lĩnh vực của đời sống, giải thoát khổ đau, có được sự bình an và hạnh phúc.

Hoằng pháp (là việc đem giáo lý của Đức Phật truyền bá rộng rãi, sâu rộng đến mọi người, nhằm khai mở trí tuệ và mang lại lợi ích, an lạc cho chúng sinh. Từ [hoằng] có nghĩa là lớn lao, mở rộng, còn [pháp] là giáo lý, là đạo Phật) không phải chỉ là thuyết giảng suông, thuyết pháp suông, mà phải đúng như lời Phật dạy là: “Này các Thầy, hãy đi, hãy đi vì lợi lạc, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. Các Thầy hãy đi, đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngả, hãy truyền bá chính pháp”. Hoằng pháp chính là con đường, phương pháp, hành động thể hiện tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm từ xưa đến nay: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” (Phàm là người xuất gia, bước đi một bước vượt đến chân trời cao rộng, hình tướng và tâm hồn khác với người thế tục, làm cho dòng thánh hưng long, nhiếp phục ma quân, để trên báo đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ cho ba đường).

Thiền phái Trúc Lâm ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, dưới thời Trần, Phật giáo được phát triển hưng thịnh và trở thành tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị của nước ta lúc bấy giờ. Với tinh thần tùy duyên, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo, nhập thế hành đạo đã sản sinh ra những thiền sư luôn hướng về hòa nhập với cuộc đời, đóng góp cho quốc gia, dân tộc.

Triết lý mà Trần Nhân Tông sử dụng là giáo lý “mười điều thiện, giữ gìn ngũ giới”, được khai thác trên cơ sở con người và tâm là Phật làm chủ yếu. Tâm là Phật, Phật là Tâm chính là cơ bản cho mọi lý luận, hành động và thực chứng: “Phật giáo hướng nội biện tâm, là Phật giáo mang tính chất bình đẳng không phân biệt, là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt là sống tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm. Hãy quay đầu lại, nhìn vào bên trong nội tâm, nếu có thể quay ánh sáng phản chiếu lại nội tâm mình, thì sẽ thấy được tính là thành Phật, tức kiến tính thành Phật. Đây là Phật giáo của mọi người và mọi người có thể hành trì được ở bất kỳ nơi đâu, lúc nào. Đó chính là cơ sở tạo nên sức mạnh của Phật giáo - Thiền thời Trần”. Đạo phải được thực hiện ngay trong thế gian, không thể cách ly Nhân dân mà phải lấy Nhân dân làm đối tượng để phụng sự và thực hiện các trí huệ của đạo.

Thiền phái Trúc Lâm ngày nay là sự tổng hòa của sự tu học sinh hoạt, hòa nhập vào xã hội, từ cơ cấu tổ chức, tư tưởng chủ đạo đến thời khóa tu tập và các buổi thuyết pháp đều phù hợp với tình hình xã hội hiện nay, mọi chủ trương hài hòa trong nét truyền thống dân tộc của Việt Nam: “Đối với người tri thức, có nhận thức thì thấy Thiền phái Trúc Lâm rất thực tế ở con người, từ hành động, ý nghĩ, lời nói thì mình biết được sai lầm để thay đổi, biết được thì không làm đau khổ người khác từ đó soi sáng cho mình hành động. Đó là cái đặc sắc và cốt lõi nhất”.

Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo. Công cuộc hoằng pháp có nhiều thuận lợi, nhưng bên cạnh đó cũng không ít thách thức. Những tín đồ Phật giáo hoặc không theo Phật giáo, họ có thể là nhà trí thức, nhà khoa học, nhà tâm lý, doanh nhân… có trình độ kiến thức, trình độ nhận thức cao, có thể hiểu được một bài pháp thoại hay kinh sách của các vị sư thuyết giảng có tính thuyết phục và tính ứng dụng cao hay chưa.

7. Kết luận

Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm là biểu tượng cho sự giao hòa giữa đạo và đời, giữa lý tưởng giác ngộ và trách nhiệm xã hội. Dòng thiền này không những phát triển đạo Phật theo hướng phù hợp với người Việt, mà còn đóng vai trò lớn trong việc xây dựng tinh thần tự lực, tự cường, yêu nước, góp phần định hình bản sắc văn hóa dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử.

Thời đại mới với những biến chuyển không ngừng, đặt ra thách thức nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội. Việc ứng dụng trí tuệ uyên thâm, lòng từ bi quảng đại của Phật Hoàng Trần Nhân Tông vào các phương pháp hoằng pháp hiện đại mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng, là việc làm vô cùng cần thiết. Chúng ta tin rằng, cùng những nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo linh hoạt và lòng nhiệt huyết hoằng dương chính pháp, dựa trên nền tảng tư tưởng của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, đạo Phật sẽ ngày càng lan tỏa sâu rộng, góp phần xây dựng xã hội an lạc, hạnh phúc và phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo

1.https://baomoi.com/chuyen-thuc-thi-phap-luat-thoi-tran-khi-quan-ao-xanh-lam-kiem-phap-r39015698.epi

2.https://giacngo.vn/phat-hoang-tran-nhan-tong-linh-hon-cua-thien-phai-truc-lam-post59856.html

3.https://ktcc.edu.vn/y-chi-la-gi/

4.https://phatgiao.org.vn/tu-dien-phat-hoc-online/phat-chung-k39894.html

5.https://tnti.vnu.edu.vn/su-nhat-the-cua-thien-lac-va-thi-hung-hay-tieng-hoan-hy-cua-tam-khong-luan-ve-ba-bai-tho-canh-chieu-ta-cua-tran-nhan-tong/

6.https://tapchinghiencuuphathoc.vn/ung-dung-tu-tuong-hoang-phap-cua-tran-nhan-tong-trong-giai-doan-hien-nay.html