Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Phát huy nguồn lực nội sinh từ phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số trong công tác xây dựng nông thôn mới

ThS. Nguyễn Thị Ánh; ThS. Nguyễn Duy Dũng; ThS. Võ Thị Thảo Nguyên - 09:06, 17/03/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích mối quan hệ tương tác giữa phong tục tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số với tiến trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Trên cơ sở tiếp cận văn hóa - phát triển, nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống phong tục của cộng đồng các dân tộc thiểu số vừa là nguồn lực nội sinh hỗ trợ thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, vừa tiềm ẩn những rào cản về hành vi, nhận thức và thể chế xã hội. Qua việc nhận diện các yếu tố phong tục tác động tích cực như sự gắn kết cộng đồng, bảo vệ môi trường, bảo tồn bản sắc và các yếu tố tiêu cực như tập quán sản xuất lạc hậu, lễ nghi tốn kém, xung đột luật tục - pháp luật, bài viết đề xuất một số định hướng tiếp cận linh hoạt, phù hợp bối cảnh văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ đó, nhấn mạnh vai trò của phát triển dựa vào cộng đồng, cải tiến thể chế địa phương và kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa truyền thống với thúc đẩy đổi mới trong xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững và bao trùm.

Từ khóa: Mối quan hệ; Phong tục tập quán truyền thống; Đồng bào dân tộc thiểu số; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Nông thôn mới.

1. Đặt vấn đề

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển toàn diện khu vực nông thôn, nâng cao chất lượng sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Trong đó, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) được xác định là trọng tâm ưu tiên, bởi đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa đặc sắc, song tiến trình xây dựng nông thôn mới ở khu vực này cũng đặt ra nhiều thách thức.

Một trong những yếu tố cấu thành đặc trưng phát triển ở vùng đồng bào DTTS&MN là hệ thống phong tục, tập quán (PTTQ), những chuẩn mực văn hóa xã hội được hình thành, duy trì và vận hành lâu dài trong cộng đồng. Hệ thống này không chỉ điều chỉnh hành vi cá nhân và quan hệ cộng đồng, mà còn tác động sâu rộng đến cách thức sản xuất, tiêu dùng, quản lý tài nguyên, tiếp cận giáo dục, y tế và tổ chức đời sống.

Trong bối cảnh Chương trình Xây dựng NTM yêu cầu sự chuyển biến toàn diện về cơ sở hạ tầng, sinh kế, môi trường và thể chế cộng đồng, mối quan hệ giữa PTTQ và công tác triển khai xây dựng NTM trở thành một vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn. Phong tục có thể là nguồn lực nội sinh quan trọng hỗ trợ sự đồng thuận, gắn kết và phát triển bền vững; nhưng cũng có thể là rào cản nếu mang tính bảo thủ, lạc hậu hoặc xung đột với quy định pháp luật hiện hành.

Do đó, việc nhận diện rõ tính hai mặt của PTTQ, phân tích mức độ tương thích hoặc mâu thuẫn với các tiêu chí NTM, đồng thời đề xuất các hướng tiếp cận linh hoạt, tôn trọng văn hóa địa phương trong quá trình xây dựng NTM vùng đồng bào DTTS&MN, là yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và hoạch định chính sách.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

a) Khái niệm và phạm vi nghiên cứu

PTTQ là hệ thống chuẩn mực ứng xử xã hội được hình thành, lưu truyền và thực thi trong cộng đồng qua thời gian, mang tính tự điều chỉnh, ổn định và có khả năng chi phối hành vi cá nhân trong khuôn khổ chuẩn mực văn hóa. Theo tiếp cận nhân học và luật học, PTTQ có thể được xem như một thiết chế văn hóa, đóng vai trò duy trì trật tự, củng cố cấu trúc xã hội và phản ánh sự thích nghi của con người với điều kiện sinh thái, lịch sử nhất định.

Chương trình Xây dựng NTM là một chính sách phát triển tổng thể, dựa trên hệ thống tiêu chí về kinh tế, hạ tầng, môi trường, văn hóa, thể chế và an ninh nông thôn, với mục tiêu nâng cao chất lượng sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Tại vùng đồng bào DTTS&MN, nơi có đặc trưng văn hóa xã hội riêng biệt, triển khai xây dựng NTM không thể tách rời bối cảnh PTTQ địa phương.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc phân tích mối quan hệ tương tác hai chiều giữa hệ thống PTTQ và quá trình triển khai xây dựng NTM ở cộng đồng các DTTS tại Việt Nam. Trọng tâm là nhận diện các yếu tố văn hóa có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến thực hiện các tiêu chí NTM, từ đó đề xuất hướng tiếp cận chính sách phù hợp nhằm dung hòa giữa bảo tồn giá trị truyền thống và thúc đẩy phát triển hiện đại, bền vững.

b) Vai trò của phong tục tập quán trong đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số

Phong tục cúng thần rừng của dân tộc Kháng truyền đi thông điệp bảo vệ rừng là một trong những phong tục hỗ trợ trực tiếp các tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Phong tục cúng thần rừng của dân tộc Kháng truyền đi thông điệp bảo vệ rừng là một trong những phong tục hỗ trợ trực tiếp các tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới

Trong các cộng đồng DTTS, PTTQ không chỉ là hình thức biểu hiện văn hóa, mà còn đóng vai trò như một hệ thống thiết chế xã hội phi chính thức, duy trì tính ổn định, gắn kết và bản sắc của cộng đồng. PTTQ hình thành trên cơ sở kinh nghiệm lịch sử, sinh thái lâu dài, đảm nhiệm chức năng điều chỉnh hành vi, phân công vai trò xã hội, quản lý tài nguyên, tổ chức tín ngưỡng, giáo dục đạo đức và định hướng lối sống. Phong tục, luật tục góp phần duy trì trật tự cộng đồng thông qua các hình thức như hương ước, quy ước. Vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín được xem như “thiết chế trung gian” giữa nhà nước và cộng đồng. Những nguyên tắc này thường mang tính linh hoạt, dễ tiếp nhận trong môi trường cộng đồng đồng nhất về văn hóa và gắn bó huyết tộc. Đồng thời, PTTQ là nguồn lực văn hóa nội sinh, phản ánh hệ giá trị đặc trưng như tôn trọng thiên nhiên, đề cao tinh thần cộng đồng, tiết kiệm, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Đây là nền tảng để duy trì sự bền vững của sinh kế, mô hình sản xuất truyền thống và các thiết chế xã hội thích ứng với điều kiện khó khăn về địa lý, kinh tế và hạ tầng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu nông thôn, các PTTQ cũng bộc lộ tính hai mặt có thể trở thành rào cản nếu mang tính bảo thủ, hạn chế quyền tiếp cận cơ hội phát triển (đặc biệt là của phụ nữ, thanh niên), hoặc xung đột với pháp luật và chuẩn mực phát triển bền vững. Do đó, đánh giá đúng vai trò của PTTQ là cơ sở quan trọng để xây dựng các chính sách phát triển nông thôn có tính địa phương hóa và bền vững hơn tại vùng đồng bào DTTS&MN.

2.2. Mối quan hệ giữa phong tục tập quán với xây dựng nông thôn mới

a) Những ảnh hưởng tích cực

PTTQ của đồng bào DTTS chứa đựng nhiều yếu tố giá trị, có thể phát huy vai trò như một nguồn lực nội sinh trong quá trình xây dựng NTM, đặc biệt trên các phương diện xã hội, văn hóa và quản trị cộng đồng.

Thứ nhất, PTTQ góp phần tăng cường tính gắn kết và đồng thuận xã hội, điều kiện nền tảng để huy động cộng đồng tham gia vào các hoạt động xây dựng NTM như xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự. Vai trò của già làng, trưởng bản và người có uy tín, những thiết chế xã hội truyền thống tạo điều kiện thuận lợi cho công tác vận động, tuyên truyền và tổ chức thực hiện các tiêu chí NTM ở thôn, bản.

Thứ hai, hệ thống PTTQ truyền thống là nguồn lực văn hóa tích cực, góp phần hiện thực hóa tiêu chí về xây dựng đời sống văn hóa, bảo tồn bản sắc dân tộc, lễ hội truyền thống và không gian sinh hoạt cộng đồng. Việc lồng ghép giá trị văn hóa địa phương vào quy ước, hương ước mới đã tạo điều kiện để hình thành mô hình NTM phù hợp với đặc điểm văn hóa - xã hội địa phương.

Thứ ba, nhiều PTTQ phản ánh nhận thức sinh thái và quản lý tài nguyên cộng đồng một cách bền vững, như luật tục bảo vệ rừng đầu nguồn, nguồn nước, đất canh tác, hay quy định về tập thể sử dụng đất và chăn thả gia súc. Những nguyên tắc này có thể hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện các tiêu chí về môi trường và phát triển bền vững trong Chương trình Xây dựng NTM.

Thứ tư, phong tục cũng là cơ chế quan trọng để giải quyết mâu thuẫn nội bộ trong cộng đồng bằng con đường hòa giải truyền thống, giúp giảm gánh nặng cho chính quyền cơ sở và tạo điều kiện duy trì sự ổn định, an toàn trong quá trình phát triển.

Do đó, khi được nhận diện, lựa chọn và vận dụng phù hợp, PTTQ tích cực có thể đóng vai trò như chất xúc tác xã hội, giúp Chương trình Xây dựng NTM trở nên phù hợp về văn hóa, bền vững về xã hội và hiệu quả về quản trị cộng đồng

b) Những ảnh hưởng là rào cản

Bên cạnh những giá trị tích cực, PTTQ của đồng bào DTTS cũng tồn tại nhiều yếu tố không còn phù hợp trong bối cảnh hiện đại, trở thành rào cản đối với việc thực hiện hiệu quả Chương trình Xây dựng NTM.

Thứ nhất, một số tập quán sản xuất lạc hậu như du canh du cư, canh tác theo kinh nghiệm truyền thống, thả rông gia súc, khai thác tài nguyên không kiểm soát... ảnh hưởng tiêu cực đến việc hoàn thành các tiêu chí về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên bền vững. Những tập quán này không chỉ làm giảm hiệu quả sản xuất mà còn gây ra áp lực môi trường sinh thái cho cộng đồng.

Thứ hai, các lễ nghi, phong tục cưới hỏi, tang ma và tín ngưỡng tốn kém, kéo dài làm gia tăng chi phí cho hộ gia đình, thậm chí dẫn đến tình trạng vay nợ hoặc nghèo hóa trở lại; làm suy giảm nguồn lực tích lũy, ảnh hưởng đến mục tiêu nâng cao mức sống, tiêu chí thu nhập và xây dựng đời sống văn hóa mới.

Thứ ba, tư duy bảo thủ, tâm lý khép kín và ngại tiếp cận tri thức mới là một trở lực lớn đối với chuyển đổi sinh kế, ứng dụng khoa học kỹ thuật và tiếp nhận các chương trình đào tạo, khuyến nông, khuyến lâm. Nhiều cộng đồng vẫn mang nặng tâm thế tự cung, tự cấp, chưa chủ động tham gia vào các thiết chế thị trường và dịch vụ công.

Thứ tư, sự xung đột giữa luật tục truyền thống và hệ thống pháp luật hiện hành trong các vấn đề như bình đẳng giới, quyền thừa kế, giải quyết tranh chấp, tổ chức quản lý đất đai… có thể làm suy giảm tính pháp quyền trong quản trị cộng đồng. Luật tục đôi khi trở thành rào cản cho việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và nhóm yếu thế.

Các vấn đề trên nếu không được nhận diện và xử lý thích hợp sẽ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, thậm chí tạo ra khoảng cách giữa chính quyền và người dân. Triển khai xây dựng NTM ở vùng đồng bào DTTS&MN vì thế cần có chiến lược can thiệp mềm, dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa địa phương và cơ chế chuyển hóa hành vi bền vững, thay vì áp đặt đồng loạt các mô hình phát triển.

3. Thảo luận

Xây dựng NTM tại vùng đồng bào DTTS&MN không thể áp dụng máy móc theo các mô hình chuẩn chung, mà cần cách tiếp cận đa chiều, thích ứng với điều kiện văn hóa xã hội đặc thù. Sự đa dạng về dân tộc, ngôn ngữ, trình độ phát triển, điều kiện sinh thái và hệ giá trị địa phương đòi hỏi phải xác lập một phương pháp triển khai mang tính linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa truyền thống và thúc đẩy hiện đại hóa.

Thứ nhất, cần tiếp cận NTM theo hướng phát triển dựa vào cộng đồng, lấy người dân làm trung tâm, tôn trọng tiếng nói và tri thức địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò thụ hưởng các chính sách từ trên xuống. Trong đó, vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín và các thiết chế truyền thống cần được công nhận là lực lượng trung gian quan trọng trong quá trình truyền đạt chủ trương, huy động nguồn lực và giám sát thực hiện các tiêu chí NTM tại cơ sở.

Thứ hai, cần áp dụng cách tiếp cận phân biệt ở vùng đồng bào DTTS&MN. Không thể đồng nhất các cộng đồng DTTS với nhau, mà phải xác định những đặc điểm nhân học, văn hóa, tập quán canh tác và khả năng tiếp cận dịch vụ công của từng nhóm dân tộc để thiết kế chính sách phù hợp. Bộ tiêu chí NTM cũng cần được địa phương hóa theo hướng linh hoạt, thay vì cứng nhắc áp dụng mô hình đồng bằng vào vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Thứ ba, cần chuyển từ cách tiếp cận thuần túy hành chính - kỹ thuật sang cách tiếp cận văn hóa, thể chế. PTTQ không chỉ là đối tượng để “cải tạo” mà cần được xem như nguồn lực thể chế phi chính thức, có thể hỗ trợ củng cố quản trị cộng đồng, duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự tham gia xã hội một cách bền vững. Việc xây dựng hương ước, quy ước mới cần lồng ghép những giá trị tích cực của truyền thống, đồng thời điều chỉnh những yếu tố không còn phù hợp thông qua đối thoại văn hóa thay vì cưỡng chế hành chính.

Thứ tư, cách tiếp cận NTM vùng đồng bào DTTS&MN cần gắn với khung lý thuyết về phát triển văn hóa bền vững, nhấn mạnh đến việc duy trì tính đa dạng văn hóa như một thành tố cấu thành của phát triển. Xây dựng thiết chế văn hóa mới, tổ chức lễ hội, quy hoạch làng bản, phát triển du lịch cộng đồng hay bảo tồn không gian văn hóa truyền thống cần được tích hợp như một phần của chiến lược NTM, chứ không nên tách rời như các hoạt động hỗ trợ mang tính phụ trợ.

Thứ năm, cần đảm bảo sự phối hợp liên ngành và đa cấp, trong đó chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các viện nghiên cứu và tổ chức phát triển cùng tham gia từ khâu thiết kế đến triển khai, giám sát và đánh giá chính sách. Chỉ khi nào PTTQ được hiểu một cách hệ thống và được tích hợp vào quá trình lập kế hoạch phát triển, xây dựng NTM vùng đồng bào DTTS&MN mới có thể trở thành một chương trình không chỉ mang tính kỹ thuật, kinh tế, mà còn mang tính nhân văn và phù hợp văn hóa sâu sắc

4. Kết luận

Phong tục tập quán của đồng bào DTTS là một cấu phần thiết yếu của hệ thống văn hóa - xã hội địa phương, đóng vai trò không chỉ trong việc định hình bản sắc dân tộc mà còn trong tổ chức đời sống, điều tiết các quan hệ xã hội và quản lý cộng đồng. Trong bối cảnh triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, phong tục tập quán vừa là nguồn lực nội sinh, vừa là thách thức thể chế nếu không được nhìn nhận đúng mức và xử lý một cách khoa học, linh hoạt.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016). Báo cáo triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

2. Chính phủ (2018). Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

3. Thành Chung (2019). Xây dựng nông thôn mới ở miền núi phía Bắc: “Cái khó ló cái khôn”. https://baochinhphu.vn/xay-dung-nong-thon-moi-o-mien-nui-phia-bac-cai-kho-lo-cai-khon-102259608.htm.

4. Nguyễn Duy Dũng. (2018). Tâm lý, nhận thức của các tộc người trong xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay. Tạp chí Mặt trận, số 178+179 (Tháng 6+7).

5. Lê Thị Thanh Hương (2015). Một số yếu tố tâm lý của người nông dân ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

6. Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

7. Thủ tướng Chính phủ (2014). Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 15/7/2014 về tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

8. Thủ tướng Chính phủ (2010). Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về Phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.