Từ khóa: Quản lý nhà nước; Tin Lành; Tỉnh Gia Lai; Tôn giáo; Tây Nguyên.
Nhà Thờ Tin Lành Plei Mơ Nú, tỉnh Gia Lai1. Mở đầu
Gia Lai là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh ở khu vực Tây Nguyên. Sau sắp xếp, tỉnh Gia Lai có tổng diện tích tự nhiên 21.576,53 km2, với 80,485km đường biên giới tiếp giáp với Vương quốc Campuchia. Tỉnh có 135 đơn vị hành chính cấp xã (110 xã, 25 phường); có 47 thành phần dân tộc, dân số khoảng 3.583.693 người, trong đó dân tộc thiểu số 831.497 người, chiếm khoảng 23,20% dân số toàn tỉnh. Các dân tộc thiểu số (DTTS) cư trú đều khắp các địa bàn trong tỉnh; mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội riêng rất phong phú, đa dạng, tạo nên tính thống nhất trong nền văn hóa tại địa phương. Đây là địa bàn có đặc điểm dân cư đa dạng, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, đặc biệt tại khu vực biên giới.
Hoạt động tôn giáo, đặc biệt là đạo Tin Lành, có sự phát triển nhanh cả về quy mô và phạm vi ảnh hưởng. Sau sắp xếp, trên địa bàn tỉnh có 09 tôn giáo đã được nhà nước công nhận; 299 tổ chức tôn giáo trực thuộc; 755 cơ sở tôn giáo; 1.430 chức sắc; 2.641 chức việc; 709 nhà tu hành, với khoảng 637.650 tín đồ chiến 18% dân số. Có 393 điểm nhóm được công nhận (trong đó Tin Lành 264 điểm nhóm), 154 điểm nhóm chưa được công nhận (trong đó Tin Lành 45 điểm nhóm); Có 03 tôn giáo và 16 tổ chức Tin Lành chưa được nhà nước công nhận với 6.131 tín đồ đang sinh hoạt.
2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở tỉnh Gia Lai
2.1. Đặc điểm phát triển của đạo Tin Lành
Đạo Tin Lành tại Gia Lai phát triển chủ yếu trong cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Gia-rai và Ba na. Hoạt động tôn giáo có xu hướng lan rộng tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và biên giới. Tại các xã biên giới số lượng tín đồ các tôn giáo tăng từ 56.324 người năm 2020 lên 62.124 người năm 2025 (trong đó Tin Lành chiếm tỷ lệ lớn từ 22.254 người năm 2020 lên 23.429 người năm 2025); các điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung của đạo Tin Lành cũng tăng từ 86 lên 99 điểm, cho thấy xu hướng mở rộng quy mô hoạt động.
Đa số tín đồ đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai là người đồng bào DTTS, đời sống KT-XH còn gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, tín đồ đạo Tin Lành là người đồng bào DTTS có 157.971 người (chiếm 10,4% dân số toàn tỉnh, chiếm hơn 22,5% dân số là người đồng bào DTTS và chiếm 98,9% tổng số tín đồ theo đạo Tin Lành). Trong những năm qua, công tác giảm nghèo chung và giảm nghèo trong đồng bào DTTS được cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp xem là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới… đã góp phần quan trọng cải thiện cơ sở hạ tầng vùng đồng bào DTTS, vùng đặc biệt khó khăn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh nói chung và đồng bào DTTS theo đạo Tin Lành nói riêng. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững; đời sống người dân ở vùng sâu, vùng xa còn khó khăn; nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản…
Tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Gia Lai nói chung và đạo Tin Lành nói riêng luôn có niềm tin tôn giáo sâu sắc. Họ coi niềm tin tôn giáo rất thiêng liêng và gắn bó với niềm tin đó một cách tự nguyện. Các hoạt động trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của tín đồ đều chịu sự chi phối của thần quyền, giáo lý, giáo luật và lễ nghi của tôn giáo mà mình tin theo. Sự lan tỏa những giá trị tích cực gắn với niềm tin tôn giáo đã góp phần phát triển số lượng tín đồ, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tinh thần của tín đồ; kéo theo đó là nhu cầu về thành lập các tổ chức tôn giáo trực thuộc, hình thành điểm nhóm, xây dựng các cơ sở tôn giáo….
2.2. Nội dung và phương thức quản lý nhà nước
UBND tỉnh đã xây dựng chương trình kế hoạch cụ thể về công tác tín ngưỡng, tôn giáo giai đoạn trung hạn và hằng năm; giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, địa phương; triển khai các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Đồng thời, đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương liên quan tham mưu ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, chủ trương theo các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Tỉnh ủy đối với đạo Tin Lành; rà soát thủ tục hành chính, cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ theo hướng đơn giản, thuận lợi.
Chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và đạo Tin Lành cho các đối tượng là cán bộ, công chức, chức sắc, chức việc đạo Tin Lành nhận thức đúng đắn và đầy đủ về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, từ đó thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo và đạo Tin Lành, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân và đảm bảo hoạt động tôn giáo diễn ra tuân thủ quy định của pháp luật; để chức sắc, chức việc, tín đồ đạo Tin Lành và quần chúng nhân dân hiểu, tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo và đạo Tin Lành, tạo sự đồng thuận trong tôn giáo, trong xã hội, từ đó góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức tôn giáo, để họ tích cực tham gia các phong trào thi đua, yêu nước, đóng góp nguồn lực tôn giáo cho sự phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh.
Giải quyết các nhu cầu chính đáng của các cá nhân, tổ chức của đạo Tin Lành, bao gồm các hoạt động theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận (như phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc…) và các hoạt động được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật (như thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc, đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo, giải quyết vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự của đạo Tin Lành…), đảm bảo đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ đạo Tin Lành theo đúng quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể chính trị trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo, đạo Tin Lành sinh hoạt lễ nghi trong khuôn khổ pháp luật; tăng cường tổ chức đối thoại giữa chính quyền và đại diện các tôn giáo, già làng, người có uy tín là tín đồ đồng bào DTTS để nắm bắt tâm tư, kịp thời xử lý vướng mắc phát sinh từ đó, kịp thời đấu tranh ngăn chặn, xử lý có hiệu quả các hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành để thực hiện các hoạt động chống phá chính quyền.
2.3. Kết quả đạt được
Triển khai thống nhất Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản hướng dẫn thi hành; nâng cao chất lượng tiếp nhận, giải quyết hồ sơ liên quan đến tôn giáo. Kịp thời chỉ đạo phối hợp xử lý các vụ việc tôn giáo phát sinh, không để xảy ra điểm nóng; Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được bảo đảm, các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường, thuần túy tôn giáo.
Một trong những chuyển biến rõ nét nhất là sự thay đổi trong xem xét chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung. Nếu trước đây việc xem xét chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn chủ yếu các điểm nhóm thuộc các tổ chức Tin Lành đã được nhà nước công nhận, thì hiện nay trên tinh thần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, địa phương đã xem xét cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho các điểm nhóm thuộc các tổ chức Tin Lành chưa được công nhận. Hiện nay có 201 điểm nhóm cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong đó 50 điểm nhóm thuộc các tổ chức Tin Lành chưa được công nhận.
Trên cơ sở nhu cầu sinh hoạt chính đáng của tín đồ, việc chấp thuận thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội) đối với đạo Tin Lành đã có nhiều chuyển biến rõ nét, đã chủ động hướng dẫn, rà soát, thẩm định chặt chẽ các hồ sơ đề nghị. Từ năm 2005 đến nay đã chấp thuận thành lập 60 chi hội, nâng tổng số đến nay là 84 chi hội. Kết quả này phản ánh sự quan tâm, góp phần định hình hệ thống tổ chức đạo Tin Lành ngày càng ổn định, hoạt động theo khuôn khổ pháp luật.
Hoạt động của đạo Tin Lành có nhiều đóng góp thiết thực, thể hiện trách nhiệm đối với cộng đồng thông qua các hoạt động xã hội, từ thiện, giúp đỡ đối tượng yếu thế; phối hợp với các cơ quan chức năng trong tuyên truyền an toàn giao thông, an ninh trật tự, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu…. các giá trị tích cực của đạo Tin Lành được phát huy. Niềm tin vào các giá trị của tôn giáo đã tạo động lực cho đồng bào tôn giáo nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe, hạn chế tệ nạn xã hội, chăm lo lao động sản xuất, cải thiện đời sống kinh tế của gia đình ngày càng ô ̉n định và phát triển.
Kết quả việc triển khai thực hiện chủ trương công tác đối với Tin Lành đã làm chuyển biến căn bản tình hình của tôn giáo này theo hướng ổn định; không chỉ đáp ứng được nguyện vọng chính đáng và hợp pháp của đồng bào theo Tin Lành mà còn đáp ứng yêu cầu quản lý tôn giáo bằng pháp luật. Qua đó tạo được niềm tin của nhiều chức sắc, chức việc và đông đảo quần chúng tín đồ đối với quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Các tổ chức Tin Lành sau khi được công nhận đã đi vào hoạt động nền nếp, tuân thủ pháp luật với đường hướng đồng hành cùng dân tộc; không khí sinh hoạt đạo ở những tổ chức, điểm nhóm Tin Lành hợp pháp ổn định; chức sắc, tín đồ phấn khởi, cởi mở và hợp tác với chính quyền. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với Tin Lành được nâng cao hơn; qua đó chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng của các thế lực thù địch.
3. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước
Đạo Tin Lành tại Gia Lai sẽ tiếp tục phát triển cả về số lượng tổ chức, hệ phái, tín đồ, chức sắc, chức việc và địa bàn hoạt động tại khu vực có đông đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa, biên giới… kéo theo các nhu cầu về thành lập tổ chức, giao đất, xây dựng cơ sở thờ tự… tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý.
Hoạt động quan hệ quốc tế của đạo Tin Lành tại Gia Lai thời gian tới sẽ ngày càng mở rộng cả về phạm vi và quy mô. Sinh hoạt tôn giáo cũng có xu hướng chuyển dịch, một bộ phận tín đồ, nhất là giới trẻ bắt đầu tiếp cận và tham gia các hoạt động tôn giáo qua không gian mạng. Thông qua môi trường mạng và yếu tố xuyên biên giới, các hoạt động tôn giáo có thể bị lợi dụng để truyền bá tôn giáo lệnh chuẩn, tư tưởng chống đối, xuyên tạc tác động đến an ninh, trật tự xã hội.
Trình độ dân trí không đồng đều, điều kiện kinh tế còn khó khăn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, cộng với khả năng tiếp cận pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo còn hạn chế, rào cản về ngôn ngữ, tâm lý dễ bị tác động bởi tin đồn, luận điệu xuyên tạc, các yếu tố “tâm linh hóa” đời sống xã hội là thách thức lớn trong quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành.
Một mặt, đạo Tin Lành góp phần cải thiện đạo đức, lối sống và giảm hủ tục. Mặt khác, cũng làm thay đổi, thậm chí làm mai một một số giá trị văn hóa truyền thống như lễ hội cồng chiêng, lễ bỏ mả. Một bộ phận người dân đồng nhất tôn giáo với bản sắc dân tộc, dẫn đến khó tách bạch giữa sinh hoạt tín ngưỡng hợp pháp và các hành vi bị lợi dụng.
4. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Đảng ta đã xác định: “Thực chất công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”. Chính vì thế, trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của tôn giáo nói chung và của đạo Tin Lành nói riêng, việc tuyên truyền, vận động chức sắc, tín đồ, quần chúng nhân dân là vấn đề cốt lõi, là biện pháp cơ bản, chiến lược. Thực tiễn cho thấy, trọng tâm và trung tâm trong các hoạt động của giáo hội các tôn giáo là quần chúng tín đồ. Vì vậy, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo chỉ có hiệu quả khi quần chúng tín đồ và chức sắc các tôn giáo đồng thuận với cách thức quản lý của chính quyền, tự giác chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quá trình hành đạo.
Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS, gắn chính sách tôn giáo với chính sách dân tộc, đây là yếu tố then chốt nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và bảo đảm ổn định xã hội. Tiếp tục quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào DTTS, thực hiện tốt chính sách dân tộc, đảm bảo nguyên tắc “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Có chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá tốt đẹp, ngôn ngữ, chữ viết dân tộc; tăng cường công tác thông tin, giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao dân trí cho đồng bào DTTS, trong đó có tín đồ đạo Tin Lành.
Tập trung củng cố hệ thống chính trị cơ sở ở vùng DTTS, đảm bảo đội ngũ cán bộ công chức tham mưu công tác tín ngưỡng, tôn giáo cấp xã đủ về số lượng, đáp ứng trình độ, năng lực chuyên môn, có uy tín với Nhân dân, có khả năng tập hợp đồng bào DTTS thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời phát hiện, khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót của cán bộ, công chức trong thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, nhất là chính sách dân tộc, tôn giáo.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo nói chung và đạo Tin Lành nói riêng, trong đó tập trung: (1) Giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng kéo dài liên quan đến đạo Tin Lành, nhất là vấn đề đất đai, sinh hoạt tôn giáo tập trung, thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc..., không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng: (2) Chủ động ngăn ngừa đấu tranh, xử lý hành vi lợi dụng đạo Tin Lành hoạt động chính trị phản động. Kiên quyết xóa bỏ về tổ chức đối với “Tin lành Đề-ga”, xử lý theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chống đối. Tăng cường công tác nắm tình hình, theo dõi hoạt động của các nhóm, phái Tin Lành có dấu hiệu “tà giáo”, cực đoan để kịp thời phát hiện và đấu tranh ngăn chặn, nhất là đối với các hoạt động trên không gian mạng: (3) Chủ động nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại tôn giáo, kịp thời thông tin về tình hình đạo Tin Lành tại địa phương để cộng đồng quốc tế hiểu đúng chính sách tự do tôn giáo của của Đảng, Nhà nước ta, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, nhận diện âm mưu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, đặc biệt đạo Tin Lành ở Tây Nguyên. Chủ động thực hiện hiệu quả công tác phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước liên quan đến đạo Tin Lành.
5. Kết luận
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin Lành tại tỉnh Gia Lai là một lĩnh vực phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố như dân tộc, văn hóa, kinh tế và an ninh. Trong thời gian qua, công tác quản lý đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần ổn định tình hình tôn giáo và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của đạo Tin Lành và những biến đổi trong bối cảnh mới, công tác quản lý cần tiếp tục được đổi mới theo hướng linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn. Việc kết hợp hài hòa giữa bảo đảm quyền tự do tôn giáo và giữ vững ổn định xã hội là yêu cầu xuyên suốt, góp phần xây dựng Gia Lai phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay .
* Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Gia Lai
Tài liệu tham khảo
1. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
2. Nghị định 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ
3. Báo cáo Tổng kết 20 năm về công tác đối với đạo Tin Lành của UBND tỉnh Gia Lai
4. Báo cáo Tổng kết về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo tỉnh Gia Lai năm 2025;
5. Các Báo cáo tổng kết công tác tín ngưỡng, tôn giáo của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai (cũ) và Bình Định (cũ)
6. Các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo về đạo Tin Lành; Tôn giáo ở Tây Nguyên…