Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Quyền bầu cử, ứng cử của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam - Nhìn từ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Phương Liên - 01:43, 28/04/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ sở pháp lý đối với quyền bầu cử, ứng cử - quyền chính trị quan trọng của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam; Các điều kiện bảo đảm thực thi quyền này trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Từ khóa: Quyền bầu cử, ứng cử; Dân tộc thiểu số; Quốc hội; Hội đồng nhân dân.

Già làng Y Thut Byă, dân tộc Ê-đê ở xã Hòa Phú, tỉnh Đắk Lắk bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội Khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
Già làng Y Thut Byă, dân tộc Ê-đê ở xã Hòa Phú, tỉnh Đắk Lắk bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội Khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

1. Bầu cử, ứng cử - quyền chính trị cơ bản của công dân trong thể chế dân chủ đại diện

Cách đây hơn 80 năm, ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, quyền bầu cử và ứng cử được thực hiện một cách đầy đủ, thực chất, không phân biệt giới tính, giai tầng xã hội, dân tộc, tôn giáo.

Ngày 6/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam mới chính thức được tiến hành trên phạm vi cả nước. 89% tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, bầu ra 333 đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc hội khóa I đánh dấu bước phát triển có tính chất khai sinh của nền dân chủ mới.

Dân chủ nghĩa là “dân là chủ” và ở Việt Nam có hai hình thức dân chủ là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. “Các cuộc bầu cử dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền làm chủ của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đó là mọi quyền lực thuộc về Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Trong Hiến pháp năm 2013, văn bản pháp lý tối cao, định hướng toàn bộ hệ thống pháp luật, quyền bầu cử và ứng cử của công dân được bảo đảm một cách công khai, bình đẳng và không phân biệt chủ thể. Điều 6 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Quy định này hiến định chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Quốc hội, Hội đồng nhân dân hình thành từ lá phiếu của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân.

Bầu cử là cơ chế pháp lý bắt buộc để chuyển hóa quyền lực nhân dân thành quyền lực nhà nước hợp hiến. Không có bầu cử, dân chủ đại diện chỉ còn hình thức; Có bầu cử nhưng thiếu bình đẳng và phổ thông thì quyền lực nhân dân bị thu hẹp. Vì vậy, Điều 6 bảo đảm rằng mọi công dân, không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo, thành phần xã hội đều có địa vị chính trị ngang nhau trong việc tham gia kiến tạo bộ máy quyền lực nhà nước.

Điều 27 Hiến pháp 2013 cụ thể hóa nguyên tắc đó bằng quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Quy định này có ba tầng ý nghĩa pháp lý quan trọng:

Thứ nhất, quyền bầu cử và ứng cử được hiến định như quyền chính trị cơ bản, ngang hàng với các quyền công dân, quyền con người khác đã được ghi nhận trong Hiến pháp, nghĩa là quyền này mang tính tối cao, mọi đạo luật, văn bản dưới luật nếu hạn chế hoặc tước đoạt trái căn cứ đều là vi hiến.

Thứ hai, Hiến pháp lựa chọn tiêu chí tuổi công dân làm điều kiện duy nhất mang tính phổ quát, thay vì các tiêu chí về dân tộc, trình độ học vấn, tài sản hay địa vị xã hội... Cách tiếp cận này thể hiện rõ bản chất bình đẳng chính trị tuyệt đối: một người Mông, Ê-đê, Khmer… hay người Kinh khi đủ 18 tuổi đều có lá phiếu giá trị ngang nhau. Đây chính là nền tảng pháp lý trực tiếp bảo đảm đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) không bị loại trừ khỏi đời sống chính trị chỉ vì khác biệt văn hóa hoặc điều kiện kinh tế - xã hội

Thứ ba, cụm từ “việc thực hiện các quyền này do luật định” nhằm thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi. Các luật chuyên ngành như Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương… có trách nhiệm cụ thể hóa quy trình hiệp thương, giới thiệu ứng cử, phân bổ cơ cấu đại biểu, bảo đảm điều kiện để mọi nhóm xã hội, trong đó có đồng bào DTTS được tham gia bình đẳng.

Điều 1, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định 4 nguyên tắc bầu cử: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Cụ thể:

Một là, nguyên tắc phổ thông bảo đảm tính bao trùm của quyền công dân. Theo quy định, tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ các trường hợp bị tước quyền theo bản án, quyết định của tòa án. Như vậy, hoàn toàn không tồn tại bất kỳ rào cản nào liên quan đến dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo hay địa vị xã hội đối với công dân, đồng nghĩa người DTTS dù sinh sống ở bất kỳ đâu trên lãnh thổ Việt Nam cũng đều có tư cách pháp lý chính trị đầy đủ như mọi công dân khác.

Hai là, nguyên tắc bình đẳng khẳng định giá trị ngang nhau của mỗi lá phiếu. Bình đẳng trong bầu cử không chỉ là “mỗi người một phiếu”, mà còn là “mỗi phiếu có giá trị như nhau”. Về bản chất, đây là sự phủ nhận mọi hình thức phân tầng chính trị. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc nên nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ngăn ngừa khả năng “đa số lấn át thiểu số” trong thiết kế thể chế, bảo đảm mọi dân tộc đều có cơ hội tham gia kiến tạo quyền lực nhà nước.

Ba là, nguyên tắc trực tiếp yêu cầu cử tri tự mình lựa chọn người đại diện, không thông qua trung gian. Quy định này củng cố tính trách nhiệm giữa đại biểu và cử tri, giúp tiếng nói của đồng bào DTTS ở cơ sở được phản ánh trực tiếp vào cơ quan dân cử.

Bốn là, nguyên tắc bỏ phiếu kín bảo vệ quyền tự do ý chí. Trong điều kiện nhiều DTTS có tính cộng đồng cao, quan hệ xã hội chặt chẽ, bỏ phiếu kín đóng vai trò như “lá chắn pháp lý”, giúp cử tri đưa ra lựa chọn độc lập, không chịu áp lực từ bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Tuy nhiên, thực tiễn quản trị cho thấy bình đẳng hình thức chưa chắc tạo ra bình đẳng thực chất, nhất là với các nhóm yếu thế hoặc có điều kiện phát triển thấp. Pháp luật bầu cử Việt Nam đã bổ sung cơ chế cơ cấu, thành phần và phân bổ đại biểu. Khoản 3, Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2025 sửa đổi Điều 9 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 với quy định: Căn cứ vào số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở mỗi đơn vị hành chính theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban nhân dân cùng cấp, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, trong đó số lượng người ứng cử là người DTTS được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương. Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, trong đó số lượng người ứng cử là người DTTS được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương. Về bản chất, đây không phải là cơ chế ưu tiên đặc quyền, mà là biện pháp pháp lý điều chỉnh chênh lệch cơ hội. Khi điều kiện tiếp cận giáo dục, thông tin, hạ tầng và nguồn lực của đồng bào DTTS còn hạn chế, nếu áp dụng cạnh tranh thuần túy, khả năng tham gia của họ vào cơ quan quyền lực nhà nước có thể bị thu hẹp. Vì vậy, bảo đảm tỷ lệ đại biểu người DTTS chính là cách thức hiện thực hóa bình đẳng thực chất - Một nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trong lý luận nhà nước pháp quyền hiện đại.

Thực tế 16 khóa Quốc hội cho thấy, cơ chế này đã phát huy hiệu quả khi số lượng đại biểu là người DTTS luôn được duy trì ở mức tương đối ổn định, phản ánh đúng đặc điểm quốc gia đa dân tộc. Điều đó chứng minh quyền bầu cử và ứng cử của đồng bào DTTS không chỉ tồn tại về mặt pháp lý, mà đã chuyển hóa thành sự hiện diện cụ thể trong bộ máy quyền lực nhà nước. Cụ thể, Quốc hội khóa I có 34/333 (10,2%) đại biểu người DTTS; Khóa II: 56/453 (12,4%); Khóa III: 60/453 (12,3%); Khóa IV: 73/420 (17,4%); Khóa V: 71/424 (16,7%); Khóa VI: 67/492 (13,6%); Khóa VII: 74/496 (15%); Khóa VIII: 70/496 (14,1%); Khóa IX: 66/395 (16,7%); Khóa X: 78/450 (17,3%); Khóa XI: 86/498 (17,26%); Khóa XII: 87/493 (17,6%); Khóa XIII: 78/500 (15,6%); Khóa XIV: 86/496 (17,3%); Khóa XV: 89/499 (17,8%); Khóa XVI: 76/500 (15,2%).

Như vậy, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người DTTS có xu hướng tăng mạnh từ Khóa IX và duy trì ổn định ở mức cao từ khóa XII trở đi và đều vượt tỷ lệ dân số DTTS. Cơ cấu đại diện đa dạng, ngoài các DTTS có dân số đông, như: Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông… còn có đại diện của DTTS rất ít người, như: Brâu, Lự lần đầu xuất hiện ở Khóa XV. Khóa XV ghi nhận 17,8% đại biểu là người DTTS, đã rất sát mục tiêu quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, đó là: “Có ít nhất mười tám phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người DTTS”, đảm bảo tiếng nói của các nhóm DTTS được đưa vào cơ quan quyền lực tối cao. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 là 17,09%, cấp huyện là 18,23%, cấp xã là 20,55%.

Nếu Hiến pháp và Luật Bầu cử xác lập quyền bầu cử, ứng cử trên phương diện pháp lý, thì chính sách dân tộc giữ vai trò bảo đảm các điều kiện xã hội - hành chính để những quyền đó có thể được thực hiện một cách thực chất. Nói cách khác, pháp luật trao quyền, còn chính sách dân tộc tạo khả năng thực hiện quyền. Hai hệ thống này không tách rời mà vận hành theo quan hệ bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau.

Theo quy định của Nghị định 05/2011/NĐ-CP, chính sách dân tộc gồm: Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực; Chính sách đầu tư phát triển bền vững; Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo; Chính sách cán bộ người DTTS; Chính sách đối với người có uy tín ở vùng DTTS; Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa; Chính sách thông tin - truyền thông; Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý… Những chính sách này liên hệ trực tiếp với thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trên thực tế, rào cản lớn nhất đối với quyền chính trị của người DTTS là khoảng cách địa lý, hạn chế về ngôn ngữ, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận thông tin pháp luật... Vì vậy, chính sách dân tộc như một cơ chế tiền đề bảo đảm cho quyền chính trị.

Thứ nhất, thông qua hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật bằng hình thức và ngôn ngữ phù hợp, chính sách dân tộc giúp đồng bào hiểu rõ quyền và nghĩa vụ bầu cử, ứng cử. Khi nắm được thông tin về quy trình, danh sách ứng cử viên, thời gian, địa điểm bỏ phiếu, cử tri DTTS mới có thể tham gia bầu cử một cách chủ động.

Thứ hai, thông qua đào tạo, bồi dưỡng và quy hoạch cán bộ người DTTS, chính sách dân tộc trực tiếp tạo nguồn nhân sự cho hoạt động ứng cử. Quyền ứng cử đòi hỏi ứng viên phải có năng lực tham gia hoạt động chính trị, hiểu biết pháp luật, kỹ năng quản lý nhà nước. Bồi dưỡng cán bộ người DTTS chính là cách thức chuyển hóa quyền ứng cử từ khả năng pháp lý thành năng lực thực tiễn.

Thứ ba, thông qua sử dụng tiếng nói, chữ viết và tôn trọng đặc thù văn hóa, chính sách dân tộc tạo môi trường giao tiếp chính trị phù hợp với cộng đồng. Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình hiệp thương, vận động bầu cử, tiếp xúc cử tri. Khi thông tin được truyền tải bằng ngôn ngữ quen thuộc, khoảng cách giữa đại biểu và cử tri được thu hẹp, chất lượng dân chủ đại diện được nâng lên.

Thứ tư, chính sách dân tộc gắn với yêu cầu bảo đảm sự tham gia của người DTTS trong hệ thống chính trị, tạo cơ sở để các cơ quan tổ chức bầu cử xây dựng cơ cấu đại biểu hợp lý. Đây là mối liên hệ trực tiếp giữa chính sách dân tộc và pháp luật bầu cử: Một bên chuẩn bị nguồn nhân lực, bên kia thiết kế cơ chế lựa chọn và đại diện.

Từ góc độ thể chế, có thể thấy, nếu chỉ có Luật Bầu cử, quyền chính trị của người DTTS mới được bảo đảm về mặt hình thức; Nếu chỉ có chính sách dân tộc mà thiếu cơ chế bầu cử dân chủ, tiếng nói của họ khó đi vào hệ thống quyền lực. Chỉ khi hai hệ thống này vận hành đồng thời, quyền mới trở thành hiện thực. Do đó, chính sách dân tộc chính là tầng bảo đảm mang tính cấu trúc, giúp quyền bầu cử và ứng cử của người DTTS không dừng ở bình đẳng danh nghĩa, mà đạt tới bình đẳng thực chất.

2. Cam kết quốc tế và nội luật hóa các chuẩn mực nhân quyền

Việt Nam là thành viên của nhiều công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD). Công ước này quy định các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức, đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc, đặc biệt trong việc hưởng quyền về bầu cử.

Nhà nước Việt Nam đã nội luật hóa quy định này của Công ước CERD bằng Hiến pháp và Luật Bầu cử như đã phân tích ở trên. Khung pháp lý về quyền bầu cử và ứng cử được nhất quán từ Hiến pháp, Luật Bầu cử đến chính sách dân tộc nhằm bảo đảm sự tham gia thực chất của người DTTS vào đời sống chính trị pháp luật của đất nước. Trong đó, Hiến pháp khẳng định nguyên tắc bình đẳng trong quyền chính trị. Luật Bầu cử chi tiết hóa quyền này một cách minh bạch và ưu việt.

Chính sách dân tộc tạo điều kiện thực tế để người DTTS có thể thực thi một cách đầy đủ, hiệu quả quyền của mình thông qua các tiến trình bầu cử hiện đại..

Từ sau cuộc Tổng tuyển cử lịch sử ngày 6/01/1946, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 16 khóa. Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 được tổ chức ngày 15/3/2026 là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước, diễn ra trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng vừa thành công tốt đẹp. Đại biểu là người dân tộc thiểu số có 76 người (tỉ lệ 15,2%), trong đó lần đầu tiên có người trúng cử đại biểu Quốc hội người dân tộc Ơ Đu - một trong những dân tộc ít người nhất tại Việt Nam.

3. Kết luận

Quyền bầu cử và ứng cử của người DTTS ở Việt Nam được bảo đảm bằng một cấu trúc thể chế nhiều tầng, từ nền tảng hiến định, khung pháp luật bầu cử đến hệ thống chính sách dân tộc. Hiến pháp xác lập quyền bình đẳng chính trị; Luật Bầu cử cụ thể hóa bằng cơ chế bình đẳng, phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín; chính sách dân tộc tạo điều kiện để quyền ấy được thực thi thực chất. Sự kết hợp này không chỉ mở rộng sự tham gia của đồng bào DTTS vào đời sống chính trị, mà còn củng cố tính đại diện, tính bao trùm và chính danh của bộ máy dân cử trong giai đoạn phát triển mới của đất nước .

Tài liệu tham khảo

1. Cổng thông tin điện tử Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam.

2. Cổng thông tin điện tử Quốc hội (2026), Ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI: Gần 45% ứng viên là nữ, hơn 21% người dân tộc thiểu số, https://quochoi. vn/hoatdongcuaquochoi/cackyhopquochoi/ quochoikhoaxv/kyhopthu10/Pages/thong-tin-khac. aspx?ItemID=98383

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX về công tác dân tộc.

4. Phúc Hằng - TTXVN/Vietnam+ (2026). Bầu cử Quốc hội và HĐND: Bảo đảm các quy trình hiệp thương dân chủ, chặt chẽ. https://hoidongbaucu. quochoi.vn/bai-viet/bau-cu-quoc-hoi-va-hdnd-bao dam-cac-quy-trinh-hiep-thuong-dan-chu-chat-che

5. Ban chỉ đạo nhân quyền Trung ương, Tài liệu thông tin, tuyên truyền về bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số.

6. Thông tấn xã Việt Nam (2026), Cơ cấu 500 người trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI, https://www. vietnamplus.vn/co-cau-500-nguoi-trung-cu-dai bieu-quoc-hoi-khoa-xvi-post1100274.vnp