Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Quyền con người trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và cơ chế bảo vệ quyền

TS. Nguyễn Thị Định - 16:03, 25/02/2026

Tóm tắt: Ngày 18/11/2016, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; ngày 30/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định số 162/2017/NĐ-CP); ngày 29/12/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (thay thế Nghị định số 162/2017/NĐ-CP). Các văn bản này đều có các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những quyền cơ bản của con người đã được Hiến định. Trong khuôn khổ của bài viết này, tác giả xin được giới thiệu khái quát những nội dung về quyền con người trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thông qua các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và cơ chế bảo đảm thực thi quyền này.

Từ khóa: Quyền con người; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo


1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp

Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân luôn được ghi nhận và được thể hiện trong các Hiến pháp qua các thời kỳ, từ Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013.

Hiến pháp năm 1946 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong bản Hiến pháp này còn mang tính khái quát, chưa cụ thể và chưa có các biện pháp bảo đảm thực hiện. Song sự hiện diện của các quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vẫn được xem là cốt lõi của bản hiến pháp dân chủ, khẳng định sự thành công của lịch sử lập hiến Việt Nam.

Hiến pháp năm 1959 đã kế thừa tư tưởng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hiến pháp năm 1946 và khẳng định rõ rằng: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.

Bản Hiến pháp năm 1980 là bước phát triển, kế thừa, tiếp thu các quy định của Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959. Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 1980 nhấn mạnh “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” đồng thời xác định các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền này “Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Quy định này không chỉ khẳng định quan điểm nhất quán trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về việc thừa nhận và bảo đảm quyền tự do cá nhân thiết yếu quan trọng của công dân mà còn khẳng định thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những hành vi lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng.

Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người
Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người

Hiến pháp 1992 ra đời trong công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trên tinh thần phát huy dân chủ, mở rộng các quyền tự do dân chủ của công dân, Hiến pháp năm 1992 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo rõ ràng và toàn diện hơn “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.

Trên cơ sở các bản hiến pháp nêu trên, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Đây cũng là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người được bảo vệ và thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình “1.Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Hiến pháp năm 2013 đã có sửa đổi quan trọng về chủ thể của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là của công dân Việt Nam mà là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi,… Việc ghi nhận khái niệm mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn khẳng định sự đoàn kết, gắn bó của toàn thể nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 cũng nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước trong việc ghi nhận, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bổ sung các quy định nhằm tăng cường cơ chế thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Lần đầu tiên vấn đề giới hạn của các quyền được quy định thành nguyên tắc trong Hiến pháp năm 2013, đó là “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

2. Việc thực hiện các quy định về quyền con người thông qua việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”
Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”


2.1. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo - bước cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018. Đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời là một trong những Luật đầu tiên được ban hành để cụ thể hóa quyền con người trong Hiến pháp 2013 - đó là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm mới tiến bộ, thể hiện tính công khai, minh bạch, vừa phù hợp tinh thần Hiến pháp năm 2013, vừa bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời đã tạo cơ sở pháp lý để mọi người thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình và góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước.

Để cụ thể hóa quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã bổ sung các quy định cụ thể về nội hàm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các cách thức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách của Nhà nước thể hiện sự tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Các quy định cụ thể của Luật cơ bản tạo lập cơ chế để ghi nhận và bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Luật đã mở rộng phạm vi chủ thể của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ “công dân” thành “mọi người”, thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt, Luật đã dành một chương (Chương II) quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện một cách cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Cụ thể:

Một là, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người

Tại Điều 6 của Luật đã quy định nhiều chủ thể được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đó là “mọi người”; “mỗi người”; người chưa thành niên; chức sắc, chức việc, nhà tu hành; người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

Đặc biệt, lần đầu tiên pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam quy định rất nhân văn, đó là “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước bảo đảm thực hiện và bảo vệ ngay cả đối với người bị hạn chế quyền công dân. Đây là sự thể hiện đầy đủ nhất về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trước hết là quyền con người, quyền tự thân, quyền mà bất cứ ai sinh ra đều có và không phải do tổ chức hoặc cá nhân nào ban tặng.

Hai là, quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc

Luật quy định mang tính nguyên tắc về các quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Các quyền này bao gồm hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự của tổ chức tôn giáo.

Như vậy, các điều kiện thiết yếu để duy trì, phát triển các hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo đã được đảm bảo về mặt pháp lý một cách toàn diện và đầy đủ.

Ba là, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam

Luật dành một điều tại Chương 2 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, khẳng định: “Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” . Về nguyên tắc, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và có những quyền về tín ngưỡng, tôn giáo như công dân Việt Nam. Cụ thể người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền: sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Đối với “chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.

Bốn là, các hành vi bị nghiêm cấm được quy định trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Luật cũng đã bước đầu cụ thể hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 trong các quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tôn giáo dành cho cả tổ chức tôn giáo, cá nhân, cơ quan nhà nước. Việc đưa ra các hành vi bị nghiêm cấm để phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Năm là, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định rất nhiều quyền cơ bản cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Bên cạnh đó, Luật cũng xác định cụ thể nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện các hoạt động liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Để việc triển khai thi hành các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được thống nhất, hiệu quả, cần tiến hành đồng bộ một số biện pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của đội ngũ công chức, người dân và cộng đồng thông qua giáo dục nhân quyền

Chỉ khi nào đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân hiểu sâu sắc các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013, trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thì việc bảo đảm thực hiện các quyền này mới đạt hiệu quả. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nhà thờ Sapa, nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào các dân tộc ở phường Sapa, tỉnh Lào Cai
Nhà thờ Sapa, nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào các dân tộc ở phường Sapa, tỉnh Lào Cai

Thứ hai, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Ưu tiên sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ ba, tuyên truyền sâu rộng các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo - một lĩnh vực nhạy cảm và hết sức phức tạp thì công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành có ý nghĩa quan trọng. Thực tế hiện nay cho thấy, nhận thức về pháp luật nói chung, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng trong đồng bào tôn giáo cũng rất hạn chế. Thiếu hiểu biết pháp luật vẫn là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những vi phạm pháp luật trong đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, do thiếu hiểu biết pháp luật nên một số tín đồ các tổ chức tôn giáo vẫn bị lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị.

Thứ tư, sắp xếp hợp lý, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Việc sắp xếp hợp lý để bảo đảm thực thi vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được Hiến pháp và pháp luật quy định; nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ công chức làm công tác tôn giáo, trong đó chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, nâng cao năng lực quản lý, thực thi pháp luật và có chế độ, chính sách khuyến khích thu hút công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ năm, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có được bảo đảm, bảo vệ trên thực tế hay không phụ thuộc rất nhiều vào cải cách thủ tục hành chính. Thời gian qua, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện giữa các tổ chức, cá nhân tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có nhiều thuận lợi, đảm bảo đúng quy trình và thời gian quy định. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực này cũng đã bộc lộ một vài khó khăn, hạn chế, như việc giải quyết thủ tục hành chính phải mất nhiều thời gian, trong khi quy định về thời gian giải quyết thủ tục có trường hợp quy định rất ngắn. Không ít trường hợp khi công dân đến cơ quan hành chính yêu cầu, đề nghị, hay để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình phải qua nhiều cửa, nhiều cấp,… Vì vậy, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đảm bảo quyền con người được thực hiện ngày một hiệu quả hơn trên thực tế là một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra hiện nay.

4. Kết luận

Quyền con người là những đặc quyền (bao gồm nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người) được thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Đây là quyền, là giá trị chung của nhân loại được xác định trên bình diện chủ yếu là đạo đức (giá trị tự nhiên, vốn có của con người) và giá trị pháp lý. Ở Việt Nam, việc ghi nhận quyền con người (trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo), quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong các bản Hiến pháp; trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo chính là bước tiếp nối, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người. Việc triển khai thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, vì vậy, quá trình triển khai thi hành Luật đòi hỏi sự tham gia tích cực, nghiêm túc của nhân dân, tất cả các cấp, các ngành dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền. Việc bảo vệ quyền này, ngoài trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các biện pháp nêu trên, còn đòi hỏi mỗi người dân cần phải có trách nhiệm chủ động học tập, tìm hiểu, nhận thức đầy đủ nội dung của Luật; hiểu biết đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; vận dụng nội dung, quy định của Luật để thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của mình. Đây cũng chính là một trong các cơ chế bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người hiệu quả./.

* Ban Tôn giáo Chính phủ

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Tư pháp, Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 - Quan điểm mới, cách tiếp cận mới và các quy định mới, Nxb Chính trị Quốc gia, 2014.

2. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb Chính trị Quốc gia, 2016.

3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2001), Hiến pháp, Nxb Lao động.

4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, http://moj.gov.vn, 2013.

5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

6. Chính phủ, Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

7. Chính phủ, Nghị định số 95/2017/NĐ-CP ngày 29/12/2023, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

8. Văn phòng Thường trực về nhân quyền và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam, Hà Nội 2015.

9. Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Thông tư số 03/2024/TT-BNV ngày 13/6/2024, quy định phân cấp một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo của Bộ Nội vụ.

10. Bộ Nội vụ, Quyết định số 491/QĐ-BNV ngày 10/7/2024 về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ.