Bản Púng Bon hiện có 59 hộ, 276 nhân khẩu, 100% là người Cống sinh sốngTừ hỗ trợ sản xuất đến sinh kế bền vững
Trước đây, sản xuất của người Cống ở Púng Bon chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Người dân chưa biết khai thác hiệu quả đất sản xuất, chăn nuôi còn nhỏ lẻ, gia súc thả rông; những năm thời tiết khắc nghiệt, năng suất cây trồng thấp khiến cuộc sống càng thêm khó khăn. Cùng với đó, giao thông cách trở khiến việc đi lại, trao đổi hàng hóa gặp nhiều trở ngại, đời sống của người dân còn nhiều thiếu thốn.
Những năm qua, các chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc Cống tỉnh Điện Biên” với tổng vốn đầu tư ngân sách nhà nước được phê duyệt cho Đề án là hơn 187 tỷ đồng, trong đó trên 159 tỷ đồng dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và gần 28 tỷ đồng vốn sự nghiệp. Bản Púng Bon là một trong những bản được thụ hưởng Đề án. Tại đây, nguồn vốn của Đề án đã góp phần đầu tư cơ sở hạ tầng, trong đó có cây cầu bê tông giúp người dân thuận lợi hơn trong đi lại và giao thương; đồng thời đồng bào được hỗ trợ tư liệu sản xuất, cây giống, vật nuôi, tập huấn kỹ thuật sản xuất, giáo dục, y tế và các hoạt động bảo tồn văn hóa.
Không chỉ đời sống vật chất được cải thiện, đời sống văn hóa, tinh thần của người Cống cũng được bảo tồn, phát huy (Trong ảnh: Đồng bào Cống trang trí chuẩn bị Tết hoa Mào gà)Theo Bí thư Chi bộ bản Púng Bon Lò Văn Liên, trước đây, nhiều gia đình chưa có cách làm phù hợp nên dù được hỗ trợ vẫn trong tình trạng khó khăn. Khi người dân thay đổi nhận thức, biết tiếp thu kỹ thuật và chủ động đầu tư, hiệu quả sản xuất đã khác. Púng Bon hiện có những hộ thu nhập ổn định, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần, tình trạng thiếu đói giáp hạt từng bước được khắc phục.
Hạ tầng đổi thay, đời sống cũng đổi thay
Sự chuyển biến ở Púng Bon dễ nhận thấy từ hạ tầng. Cây cầu qua sông Nậm Núa được đầu tư kiên cố, đường nội bản được bê tông hóa, việc đi lại thuận lợi. Điện, nước sinh hoạt, trường lớp và các công trình phục vụ cộng đồng từng bước được hoàn thiện. Những thay đổi ấy tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ, đưa sản phẩm ra thị trường và mở rộng cơ hội phát triển kinh tế. Cùng với đời sống vật chất, nhận thức của người dân về giáo dục, chăm sóc sức khỏe và xây dựng gia đình cũng có nhiều chuyển biến. Trẻ em được đến trường đầy đủ hơn; người dân khi đau ốm đã chủ động tìm đến cơ sở y tế. Tại Púng Bon, nhiều năm gần đây không còn tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết.
Câu chuyện của chị Lò Thị Ón là một ví dụ. Năm 13 tuổi chị kết hôn, khi đó chị còn quá nhỏ để hiểu biết mọi chuyện, cuộc sống vốn đã khó khăn càng thêm khó hơn. Thấm thía những nhọc nhằn, chị luôn động viên các con học hành, có công việc tốt và kết hôn đúng tuổi. Một người con của chị đã được đi học ở Lào, hiện trở thành cán bộ xã. Từ câu chuyện của gia đình mình, chị tiếp tục động viên, chia sẻ đến các gia đình trong bản quan tâm đến việc học của con em, tránh để những tập quán cũ ảnh hưởng đến tương lai thế hệ trẻ.
Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Điện Biên, những năm qua đã có nhiều chương trình, đề án, dự án được triển khai thực hiện trong vùng đồng bào Cống. Những đầu tư đó đã phần nào giúp bà con ổn định đời sống và phát triển sản xuất. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục triển khai các dự án, Chương trình Mục tiêu quốc gia trên địa bàn, đồng thời nghiên cứu đề án riêng đối với các dân tộc đặc biệt ít người, trong đó có người Cống.
Từ một bản còn nhiều khó khăn, Púng Bon hôm nay đã có đường đi thuận lợi, nhà cửa khang trang hơn, sản xuất từng bước ổn định, trẻ em được học hành và các giá trị văn hóa được quan tâm gìn giữ. Đằng sau những đổi thay ấy là hệ thống chính sách được triển khai đến cơ sở, sự đồng hành của chính quyền địa phương và sự chủ động của người dân. Khi hỗ trợ đúng nhu cầu, hướng dẫn đúng cách và người dân quyết tâm làm ăn, những chính sách đã chuyển thành kết quả cụ thể trong từng gia đình, trên từng thửa ruộng và từng nếp nhà nơi vùng biên.