Từ khóa: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Hiến pháp 2013; Nguồn lực.
1. Sự cần thiết xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Các chức sắc, chức việc, đại diện các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo dự Hội nghị xin ý kiến về hồ sơ chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, bảo đảm các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với khoảng 27.382.846 tín đồ, 66.365 chức sắc, 120.475 chức việc, 30.374 cơ sở tôn giáo, trên 70.000 cơ sở tín ngưỡng. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần lưu giữ và phát huy nhiều giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc và là một trong những nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo như: Sự trở lại của niềm tin tôn giáo; Sự gia tăng số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tổ chức tôn giáo; Nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn thu hút đông đảo tín đồ và Nhân dân tham dự; Các tổ chức tôn giáo đã được công nhận thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống và gắn bó, đồng hành cùng dân tộc,... Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang đáp ứng nhu cầu của đông đảo quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng còn bộc lộ một số hạn chế: nhiều loại hình tín ngưỡng phục hồi, phát triển mang tính tự phát, chưa được quản lý; một số hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lệch chuẩn, phản văn hóa; xuất hiện hiện tượng thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tình trạng mâu thuẫn trong nội bộ một số tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc dẫn đến việc hình thành các nhóm ly khai có dấu hiệu gia tăng; sự xuất hiện của nhiều hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới và tổ chức hội, nhóm mang danh tôn giáo, tà đạo, đạo lạ,… Từ thực trạng này, việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở thời điểm hiện nay là cần thiết để bảo đảm tốt hơn nữa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vì lợi ích chính đáng của cộng đồng người có tín ngưỡng, tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo và vì lợi ích chung của toàn xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Việc hoàn thiện luật xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo để phù hợp với tinh thần của các nghị quyết, cụ thể Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta...”; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng yêu cầu: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Thứ hai, Việt Nam đang thực hiện mạnh mẽ cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị nhằm xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Thời gian qua, việc thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp đã, đang có những tác động không nhỏ đến các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam cũng như đối với công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đòi hỏi văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần được rà soát, thiết kế lại để phù hợp với sự thay đổi của bộ máy hành chính nhà nước các cấp. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo định hướng tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến việc chuyển đổi từ mô hình chính quyền địa phương 03 cấp sang mô hình chính quyền địa phương 02 cấp là cấp thiết nhằm tạo lập hành lang pháp lý để các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước đi vào hoạt động theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước.
Thứ ba, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển nhanh, mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Các tôn giáo, tổ chức tôn giáo đã và đang sử dụng công nghệ thông tin và không gian mạng để truyền bá giáo lý, tổ chức hoạt động tôn giáo, kết nối với cộng đồng và tín đồ của mình. Với ưu thế vượt trội như lượng thông tin truyền tải lớn, lan tỏa nhanh, cách thức đa dạng, phong phú, không bị hạn chế về không gian, thời gian, số lượng người tham gia,... không gian mạng đã được các tổ chức, cá nhân tôn giáo triệt để khai thác, sử dụng để “sinh hoạt tôn giáo online” dưới hình thức diễn đàn, hội thảo online, nhóm kín…; thông qua các ứng dụng Facebook Fanpage, Zalo, Telegram, Instagram, Lotus, Mocha, Gapo, TikTok, Zoom, YouTube… để truyền đạo cũng như thể hiện đức tin của mình. Cùng với đó, khái niệm giáo sỹ người máy (robot clergy); các buổi thuyết pháp trực tiếp tự động có sử dụng phần mềm chuyển văn bản thành giọng nói; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trả lời giáo lý tôn giáo,... cũng dần trở nên quen thuộc với các tổ chức tôn giáo và tín đồ. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng đã tác động không nhỏ, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Cùng với đó, một số luật được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như hoạt động tôn giáo trên môi trường mạng; cải cách thủ tục hành chính, vấn đề phân quyền, phân cấp và chuyển đổi số như Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14, Luật An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14, Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15…. Điều này đòi hỏi cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật.
Thứ tư, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành từ năm 2016, khi điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và tình hình thế giới, khu vực có nhiều khác biệt so với hiện nay. Sau 08 năm triển khai thi hành Luật, các quy định của Luật đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo rất đa dạng, đã và đang có những thay đổi mạnh mẽ; sự giao lưu quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội đã tiếp nhận thêm nhiều vấn đề mới về tôn giáo mà từ trước tới nay chưa xảy ra ở Việt Nam; thực tế đời sống xã hội đã phát sinh những vấn đề nội dung mà Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chưa dự báo hết để có quy định điều chỉnh. Trước yêu cầu của thực tiễn nêu trên, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập và bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là rất cần thiết.
2. Dự kiến những nội dung xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) cần tập trung vào các định hướng sau đây:
Một là, cần bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo trên không gian mạng. Khi bổ sung các quy định này, trước hết cần khẳng định quyền của cá nhân, tổ chức được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo trên không gian mạng. Bên cạnh đó, các cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo trên không gian mạng phải tuân thủ các nguyên tắc, thực hiện các trách nhiệm cụ thể theo quy định. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm trong việc ngăn chặn các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Hai là, cần bổ sung, sửa đổi các quy định về phân quyền, phân cấp để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người và biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, như: (i) Bổ sung quy định đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng nhằm mở rộng việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng cho các tổ chức, cá nhân khác (như cơ sở tư gia, cơ sở do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có hoạt động tín ngưỡng). (ii) Bổ sung các nội dung liên quan đến đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc tại tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (theo đó nếu bổ nhiệm, suy cử chức việc sẽ đăng ký trước; nếu bầu cử chức việc sẽ thực hiện đăng ký sau khi có kết quả); bổ sung chủ thể được mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo là tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; bổ sung quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được mời người Việt Nam làm chức sắc cho tổ chức tôn giáo nước ngoài giảng đạo cho tổ chức; bổ sung chủ thể được thực hiện hoạt động xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, thực hiện hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo là tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; bổ sung quy định điều kiện để được đăng ký nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam;… (iii) Bổ sung một số biện pháp có tính chất cảnh báo, khuyến cáo, răn đe, ngăn ngừa chức sắc, chức việc, nhà tu hành, một số nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo không thực hiện sinh hoạt tôn giáo 06 tháng (đối với nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung), 12 tháng (đối với tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo) thì văn bản chấp thuận cho sinh hoạt tôn giáo, cho hoạt động tôn giáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hết hiệu lực; bổ sung quy định nếu các nhóm (kể cả nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam), các tổ chức không thực hiện theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc vi phạm các quy định có thể sẽ bị thu hồi văn bản chấp thuận hoặc văn bản cấp chứng nhận.
Ba là, đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng trên cơ sở kế thừa các thủ tục hành chính theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành (không làm phát sinh thủ tục hành chính mới), đồng thời rà soát, bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ (như phiếu lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú ở Việt Nam trên 06 tháng liên tục); bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, thời hạn thực hiện các thủ tục trong Luật theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần xây dựng Chính phủ số, hướng tới phát triển một nền quản trị số hiện đại, minh bạch, hiệu quả, gắn với việc đảm bảo an toàn thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể tôn giáo.
3. Kết luận
Việc sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là yêu cầu khách quan và cấp thiết trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng và bảo đảm ngày càng tốt hơn về quyền con người, quyền công dân. Thực tiễn thi hành Luật thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn tồn tại những quy định chưa theo kịp sự phát triển của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý nhà nước cũng như nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân tôn giáo. Việc sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là để khắc phục các vướng mắc, mà còn là một bước đi chiến lược nhằm hoàn thiện thể chế, vừa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời phát huy các giá trị tích cực và nguồn lực của tôn giáo trong công cuộc phát triển đất nước ở giai đoạn mới./.
Tài liệu tham khảo
1.Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương triển khai Đề án về những vấn đề phát sinh phức tạp trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo thời gian qua (số liệu tính đến tháng 6/2024).
2. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
3. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật.