Sau 20 năm triển khai, Nghị quyết số 24-NQ/TW đã góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo kinh tế - xã hội, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số. Hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đầu tư mạnh mẽ, tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, bản sắc văn hóa từng bước được bảo tồn và phát huy, niềm tin của đồng bào vào Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy còn không ít khó khăn, thách thức cần tiếp tục được giải quyết, như: Khoảng cách phát triển giữa các vùng, chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số còn hạn chế, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và hội nhập kinh tế thị trường đến bản sắc văn hóa và sinh kế địa phương.
Bài viết tập trung phân tích những kết quả nổi bật, nhận diện các vấn đề còn tồn tại, rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn và đề xuất định hướng phát triển chính sách dân tộc trong giai đoạn mới - với mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh, bảo đảm công bằng, tiến bộ và phát triển bao trùm, không để bất kỳ dân tộc nào bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển đất nước.
Từ khóa: Nghị quyết số 24-NQ/TW; Chính sách dân tộc; Dân tộc thiểu số; Đại đoàn kết toàn dân tộc; Công tác dân tộc.
1. Đặt vấn đề
Công tác dân tộc luôn giữ vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực to lớn, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng và vấn đề dân tộc - trong điều kiện của một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam - không chỉ là vấn đề xã hội, mà còn là vấn đề chính trị, kinh tế, quốc phòng và văn hóa mang tầm chiến lược lâu dài.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới sau hơn một thập kỷ đổi mới, ngày 12/3/2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc, xác lập tầm nhìn toàn diện và hệ thống các chủ trương lớn nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là dấu mốc có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, thể hiện sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng về vấn đề dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Hai mươi năm trôi qua - một quãng thời gian đủ dài để nhìn lại một cách toàn diện những chuyển biến sâu sắc và bền vững mà Nghị quyết số 24-NQ/TW mang lại: Từ đời sống kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, đến chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở. Quan trọng hơn cả, Nghị quyết đã góp phần củng cố niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, bảo đảm quyền bình đẳng và phát huy vai trò chủ thể của đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự phát triển chung của đất nước.
Bảo tồn nét đẹp văn hóa đồng bào dân tộc Khmer Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu rõ nét, công tác dân tộc vẫn đang đối diện với nhiều thách thức: Khoảng cách phát triển giữa các vùng, nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc, tác động của biến đổi khí hậu, chuyển dịch lao động, và áp lực từ hội nhập kinh tế thị trường... Những vấn đề này đòi hỏi phải đánh giá nghiêm túc, khách quan và toàn diện quá trình thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW trong hơn 20 năm qua, từ đó rút ra bài học thực tiễn, đồng thời kiến nghị các giải pháp đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững hiện nay.
Bài báo này nhằm phân tích sâu sắc những kết quả nổi bật, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực thi Nghị quyết, đồng thời đề xuất một số định hướng chiến lược để tiếp tục phát huy tinh thần, nội dung và giá trị cốt lõi của Nghị quyết số 24-NQ/TW trong bối cảnh mới - với mục tiêu xây dựng một Việt Nam phát triển toàn diện, công bằng, bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Thành tựu rõ nét, chuyển biến toàn diện sau 20 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW
Hai thập kỷ kể từ khi Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ra đời (2003), công tác dân tộc ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả to lớn, toàn diện và sâu sắc, tạo ra những thay đổi căn bản trong nhận thức, trong thể chế chính sách, cũng như trong đời sống vật chất - tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số trên cả nước.
Một là, chủ trương lớn, xuyên suốt và nhất quán của Đảng về công tác dân tộc.
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách của cách mạng Việt Nam”. Đây là quan điểm xuyên suốt của Đảng, tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa và công bằng giữa các dân tộc anh em.
Đến năm 2019, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 65-KL/TW nhằm đánh giá toàn diện quá trình thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW, đồng thời xác định rõ các định hướng, giải pháp cho giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện chính sách, phát huy nội lực, gắn kết phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Hai là, tạo chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Một trong những thành quả rõ ràng và có tính lan tỏa nhất sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW là sự thay đổi toàn diện về kinh tế - xã hội tại các địa bàn dân tộc thiểu số và miền núi.
(1) Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc thiểu số giảm mạnh: Từ hơn 60% vào đầu những năm 2000, đến nay còn dưới 20% (nhiều nơi xuống dưới 10%), trong khi chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, điện, nước sạch… đều tăng đáng kể.
(2) Hạ tầng thiết yếu được đầu tư đồng bộ: Hàng chục nghìn km đường giao thông nông thôn được mở rộng; 100% xã vùng dân tộc có trường học, trạm y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng; hệ thống thủy lợi, điện lưới quốc gia và viễn thông phủ rộng đến cả vùng sâu, vùng xa, biên giới.
(3) Đời sống sản xuất chuyển biến tích cực: Các mô hình kinh tế mới như trồng cây dược liệu, chăn nuôi hữu cơ, du lịch cộng đồng, hợp tác xã nông nghiệp… được hình thành, giúp đồng bào từng bước chuyển đổi sinh kế, nâng cao thu nhập, tiếp cận thị trường và hội nhập với kinh tế quốc gia.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực và cán bộ người dân tộc thiểu số.
Việc thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW đã thúc đẩy mạnh mẽ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Hàng ngàn cán bộ được đào tạo tại các trường dân tộc nội trú, học viện chính trị, trường đại học và chương trình cử tuyển.
Đến nay, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, quản lý các cấp ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, nhiều người đảm nhận vị trí chủ chốt tại cấp huyện, tỉnh và Trung ương. Đây là minh chứng rõ nét cho chủ trương “trao quyền” và “trao cơ hội” đúng đắn của Đảng ta.
Bốn là, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại hội nhập.
Nghị quyết số 24-NQ/TW đặc biệt coi trọng việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, coi đó là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững.
Nhiều lễ hội truyền thống, tiếng nói, chữ viết, làn điệu dân ca, nghề thủ công… đã được phục dựng, bảo tồn thông qua các chương trình của Nhà nước và cộng đồng. Các thiết chế văn hóa - như nhà văn hóa dân tộc, bảo tàng địa phương, trường dạy tiếng dân tộc - được chú trọng xây dựng. Nhiều dân tộc đã có chương trình truyền hình, phát thanh bằng tiếng mẹ đẻ, góp phần nâng cao niềm tự hào dân tộc và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa trong thế hệ trẻ.
Năm là, củng cố quốc phòng - an ninh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Một trong những kết quả cốt lõi và có ý nghĩa chiến lược lâu dài của việc thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW là góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh Nhân dân vững chắc tại khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa - nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Niềm tin của đồng bào vào Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương ngày càng được củng cố, thể hiện qua sự đồng thuận xã hội, tinh thần tự quản, và sự tham gia tích cực của cộng đồng dân tộc vào các phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo và giữ gìn chủ quyền quốc gia.
Những thành tựu đạt được trong 20 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội, mà còn góp phần tạo dựng một nền tảng vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, và từng bước thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển toàn diện giữa các vùng, các dân tộc.
Từ thực tiễn đó, có thể khẳng định: Nghị quyết số 24-NQ/TW không chỉ là một định hướng chính sách đúng đắn, mà còn là một bước ngoặt mang tính đột phá trong tư duy, hành động và quản trị quốc gia về công tác dân tộc.
2.2. Kiến nghị - Giải pháp cho giai đoạn mới: Tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện chính sách và phát huy nội lực đồng bào dân tộc thiểu số
Sau hai thập kỷ triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, công tác dân tộc ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, những thách thức mới đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy phát triển và hành động quyết liệt hơn để bảo đảm phát triển bền vững, toàn diện và bao trùm.
Thứ nhất, tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của công tác dân tộc trong sự nghiệp phát triển quốc gia.
Công tác dân tộc cần được xác định rõ hơn trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2025-2050, đặt trong tổng thể chiến lược phát triển bền vững, quốc phòng - an ninh, bảo vệ biên giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quan tâm:
(1) Khẳng định công tác dân tộc không chỉ là một lĩnh vực chính sách xã hội mà là một trụ cột chiến lược về phát triển kinh tế, giữ gìn văn hóa và bảo vệ an ninh quốc gia.
(2) Lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về dân tộc thiểu số vào trong các chương trình quốc gia, các chiến lược ngành và quy hoạch vùng.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về dân tộc theo hướng hiện đại, đa ngành, linh hoạt.
Xây dựng và ban hành Luật công tác dân tộc: Nhằm thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp 2013 và phù hợp với tình hình phát triển mới. Luật cần xác định rõ quyền, nghĩa vụ, cơ chế phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình giữa Trung ương - địa phương - cộng đồng dân tộc.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số và đội ngũ cán bộ có năng lực, tâm huyết, gắn bó với cơ sở.
Đẩy mạnh giáo dục - đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là phổ cập chất lượng trung học, dạy nghề gắn với thị trường, phát triển giáo dục nội trú, mô hình “trường học gắn với phát triển cộng đồng”.
Thứ tư, tái cơ cấu kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng đặc thù, sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ năm, tăng cường giám sát, đánh giá độc lập và phát huy vai trò của Nhân dân trong công tác dân tộc.
Xây dựng hệ thống theo dõi - đánh giá chính sách công khai, minh bạch và dựa trên phản hồi của cộng đồng, nhất là ở các Chương trình Mục tiêu quốc gia và các chính sách dân tộc.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong giám sát thực hiện chính sách, bảo đảm đồng thuận xã hội và hiệu quả triển khai ở cơ sở.
Thứ sáu, khơi dậy khát vọng phát triển và nội lực của chính đồng bào dân tộc thiểu số.
Điều quan trọng nhất là biến đối tượng thụ hưởng thành chủ thể phát triển, chuyển từ tư duy hỗ trợ sang tư duy đồng hành, kiến tạo.
Cần tôn trọng, lắng nghe, khích lệ sáng tạo và bản lĩnh vươn lên của người dân. Chính sách không thể thành công nếu không có sự tham gia thực chất và chủ động của đồng bào.
Hai mươi năm sau Nghị quyết số 24-NQ/TW, Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới - với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Muốn làm được điều đó, công tác dân tộc cần tiếp tục được nhìn nhận bằng tư duy chiến lược, hành động quyết liệt và lấy người dân làm trung tâm.
Chỉ khi mỗi dân tộc đều được tạo điều kiện phát triển bình đẳng, được tôn trọng bản sắc, được trao quyền tự chủ và tham gia kiến tạo tương lai, thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh to lớn để xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và nhân văn.
3. Thảo luận
Việc triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW trong hai thập kỷ qua đã mang lại những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tiễn cũng cần thấy rõ một số vấn đề đặt ra đòi hỏi phải thảo luận một cách nghiêm túc và cầu thị.
Một là, khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc vẫn là thách thức lớn.
Hai là, chính sách hỗ trợ vẫn còn chưa phát huy hết vai trò chủ thể của đồng bào.
Ba là, văn hóa và ngôn ngữ dân tộc thiểu số đứng trước nguy cơ mai một.
Bốn là, hệ thống chính sách còn chồng chéo, thiếu tính đồng bộ.
Năm là, công tác cán bộ dân tộc thiểu số: Vẫn là “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ.
4. Kết luận
Hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và 6 năm thực hiện Kết luận số 65-KL/TW là minh chứng rõ ràng cho chủ trương đúng đắn của Đảng về công tác dân tộc là chặng đường khẳng định tư duy chiến lược, tính đúng đắn, nhất quán và ưu việt của Đảng ta về công tác dân tộc. Nghị quyết không chỉ định hình một khuôn khổ chính sách rõ ràng và nhân văn, mà còn làm thay đổi căn bản cách nhìn, cách tiếp cận về vấn đề dân tộc trong bối cảnh phát triển nhanh và hội nhập quốc tế.
Những kết quả to lớn đã đạt được là minh chứng sinh động cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, và đặc biệt là sự đồng lòng, nỗ lực vươn lên không ngừng của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đó cũng là thành quả của một mô hình phát triển mang bản sắc riêng của Việt Nam: Phát triển nhưng không hòa tan, hiện đại nhưng vẫn gìn giữ cội nguồn, hội nhập nhưng không đánh mất bản sắc.
Trong giai đoạn tới, để tiếp tục phát huy tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW và đưa công tác dân tộc lên tầm cao mới, rất cần một tư duy đột phá, hành động đồng bộ và quyết liệt hơn. Chính sách cần chuyển từ “hỗ trợ” sang “trao quyền”, từ “hướng dẫn” sang “đồng hành”, từ “phân tán” sang “tích hợp và bền vững”. Phát triển vùng dân tộc thiểu số không chỉ là trách nhiệm chính trị - đạo lý, mà còn là một phần cốt lõi trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia.
Khi mỗi dân tộc được sống trong môi trường bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết và cùng phát triển, thì đó chính là lúc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành sức mạnh vững chắc nhất của một quốc gia.
* Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2003). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc.
2. Văn phòng Trung ương Đảng. (2005). Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Chính phủ (2020), Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.
6. Ủy ban Dân tộc (2023), Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc.
7. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Dân tộc học (2023), Công tác dân tộc trong tình hình mới: Lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.