Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tìm hiểu về lễ thành hôn theo nghi thức tôn giáo

ThS. Trần Thị Hương* - 17:09, 23/03/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Lễ thành hôn theo nghi thức tôn giáo là một nghi lễ quan trọng, đánh dấu sự xác lập mối quan hệ hôn nhân không chỉ về mặt xã hội mà còn về mặt tinh thần và tín ngưỡng. Trong nhiều tôn giáo, lễ thành hôn được xem là sự kiện thiêng liêng, thể hiện cam kết của đôi nam nữ trước cộng đồng và trước đấng thiêng liêng mà họ tôn thờ. Thông qua các nghi thức, lời tuyên hứa và biểu tượng tôn giáo, lễ thành hôn góp phần củng cố các giá trị đạo đức, trách nhiệm gia đình và sự bền vững của đời sống hôn nhân. Đặc biệt, với tín đồ của các tôn giáo, lễ thành hôn càng trở nên có ý nghĩa khi đây không chỉ là việc kết hợp giữa hai con người bởi tình yêu đôi lứa mà còn là sự gắn kết của hai tâm hồn có chung đức tin và tình cảm tôn giáo.

Lễ hằng thuận được xem là một nét đẹp văn hóa trong đời sống Việt Nam
Lễ hằng thuận được xem là một nét đẹp văn hóa trong đời sống Việt Nam

Từ khóa: Lễ thành hôn; Hôn nhân tôn giáo; Nghi thức tôn giáo trong hôn nhân.

1. Nghi thức hôn lễ truyền thống của người Việt Nam

Theo phong tục truyền thống của người Việt, nghi thức hôn lễ xưa được thông qua những giai đoạn sau: khi cha mẹ của người con trai tìm được một người con gái môn đăng hộ đối thì việc làm mối bắt đầu. Cha mẹ bên nhà trai chọn ra một người, thường là người thân quen, khéo xử sự đóng vai trò người làm mối. Người này sẽ đến nhà gái đưa lời dạm hỏi có tính chất thăm dò. Nhà gái thường không bày tỏ quan điểm ngay để có thời gian tìm hiểu thêm thông tin về gia đình và bản thân người con trai do vậy sau đó ít lâu, người làm mối lại viếng thăm nhà gái một lần nữa.

Nếu lời dạm hỏi được nhà gái chấp thuận, nhà trai cử người làm mối mang chim nhạn đến nhà gái với hàm ý đã kén chọn ở nơi ấy, nghi thức này gọi là lễ nạp thái. Sở dĩ chim nhạn được chọn là bởi vì đó là loài rất chung tình, bao giờ cũng có đôi. Sau đó, nhà trai lại cử người làm mối đến xin giờ, ngày, tháng, năm sinh của cô gái, đồng thời trao cho nhà gái những thông tin tương tự về chàng trai, lễ này gọi là lễ vấn danh. Các thông tin trao đổi được hai bên dùng để xem tử vi, xem bói nhằm xác định số mệnh của chàng trai và cô gái có tương hợp hay không. Việc hôn nhân có thể bị hủy bỏ khi kết quả cho rằng số mệnh của họ không hợp nhau. Nếu đôi trai gái đó hợp nhau, nhà trai sẽ làm tiến hành lễ tiếp theo gọi là lễ nạp cát, tức là thông báo cho bên nhà gái biết rằng đã có tin mừng, số mệnh chàng trai và cô gái hợp nhau, đến đây, việc hôn nhân coi như đã được quyết định.

Tiếp theo, cha mẹ chàng trai lúc này mới tham gia cùng người làm mối mang đồ sính lễ đến nhà gái làm lễ nạp tệ, tức là nhà trai mang lụa là, vàng bạc và những phẩm vật quý giá đến để khẳng định và làm chứng cho việc việc hôn nhân của đôi trai gái. Đến đây, việc hôn nhân coi như đã thành và chỉ còn chờ ấn định ngày giờ. Sau đó, nhà trai sẽ tiến hành lễ thỉnh kỳ, tức là xin ngày giờ để đón dâu và tổ chức nghi thức cuối cùng - lễ thân nghinh, tức là lễ rước dâu.

2. Nghi thức hôn lễ của tín đồ đạo Phật

Trước hết, cần phải nói rằng, trong giáo lý nhà Phật không quy định cụ thể về nghi lễ này và cũng không bắt buộc tín đồ đạo Phật phải theo nghi thức này khi tổ chức lễ thành hôn. Tuy vậy, việc trước Tam bảo, đôi bạn phát nguyện sống chung hạnh phúc theo những nguyên tắc đạo đức cơ bản của Phật giáo, một mặt, tạo nền tảng tâm linh cho đời sống gia đình, mặt khác, lời hứa trước Tam bảo sẽ có sức mạnh nâng đỡ cho đôi bạn vượt qua những trắc trở trong đời sống sau hôn nhân. Cùng với tình yêu thương, ý thức trách nhiệm và mục đích sống, đôi bạn trẻ cùng nhau xây đắp ngôi nhà hạnh phúc trên nền tảng đạo đức Phật giáo cho hạnh phúc được bền lâu.

Nghi thức hôn lễ trong Phật giáo được gọi là Lễ hằng thuận hay còn gọi là lễ Hộ niệm hôn lễ, là một nghi thức tổ chức hôn lễ tại chùa gồm 15 mục, trong đó đáng kể nhất với các lứa đôi là các nghi thức chính gồm: dâng hương, lạy Phật, khai thị, giao bái, trao nhẫn và nói lời ước nguyện. Tùy theo nhu cầu tâm linh hay hoàn cảnh kinh tế, thời gian, mức độ tổ chức…mà đôi tân lang, tân nương có thể tiến hành đủ các mục hoặc có thể giảm bớt các nghi thức này.

Người khởi xướng ra nghi Lễ hằng thuận là ông Đồ Nam Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940) quê ở Hải Dương. Ông đã đưa ra quan điểm Đạo Phật nên được dấn thân và hòa hợp vào quần chúng. Thấm nhuần tư tưởng đó, năm 1930, một trí thức đã tổ chức đám cưới tại chùa Từ Đàm (Huế) cho con gái mình. Hưởng ứng lời kêu gọi của ông Đồ Nam Tử, năm 1937, Hoà thượng Thích Thiện Hoa đã dùng hai chữ hằng thuận, tức là mãi mãi hòa thuận để chỉ việc kết hôn trước cửa Phật. Trong chùa, tăng ni không gọi đám cưới là lễ cưới hỏi mà gọi là lễ hằng thuận, điều đặc biệt trong buổi lễ phải có một nhà sư chủ trì làm chủ lễ.

Như trên đã nói, trong nghi thức dâng hương, nghi thức đầu tiên của buổi lễ, tân lang, tân nương được dẫn tới trước bàn thờ Tam bảo đứng, chắp tay làm lễ. Khi sư thầy trụ trì (người chủ lễ) dâng hương lên thì cô dâu, chú rể quỳ hai bên để nghe thầy chủ lễ căn dặn về đạo vợ chồng. Những quy tắc, khuyên bảo ứng xử này rất gần gũi và được xem là những chuẩn mực về đạo vợ chồng, dâu con, trong đó, có bổn phận của vợ và chồng đối xử với nhau.

Tiếp theo là nghi thức khai thị, thường là một thời pháp ngắn, sau đó phu thê giao bái, trao nhẫn và nói lời ước nguyện. Ở phần đầu của nghi thức này, trước khi cô dâu và chú rể trao nhẫn, vị sư chủ lễ đọc một bài pháp ngắn, căn dặn đôi vợ chồng trẻ sống theo các quy tắc của chính pháp và đạo lý, chuẩn mực ứng xử ở đời. Sau khi chú rể trao nhẫn cho cô dâu thì nghe vị chủ lễ nói về ý nghĩa của chiếc nhẫn, với đại ý khi hai người trao nhẫn cho nhau thể hiện sự nhường nhịn, yêu thương và kính trọng nhau giữa hai người. Cuộc sống vợ chồng nếu thiếu những yếu tố trên sẽ không mấy bền vững.

Sau phần trao nhẫn, chú rể và cô dâu hứa với nhau, với các vị chư tăng, phật tử có mặt và gia đình đôi bên sẽ toàn tâm, toàn ý yêu thương, chăm sóc nhau. Tiếp theo, gia đình hai bên lần lượt hứa trước Tam bảo và họ hàng hai bên cùng giúp đôi bạn trẻ xây dựng hạnh phúc, đồng thời tạo mọi điều kiện để đôi bạn trẻ hoàn thành vai trò làm vợ chồng, cũng như làm tròn trách nhiệm dâu rể với song thân, họ hàng gia đình đôi bên.

3. Nghi thức hôn lễ của Công giáo

Đối với những người theo Công giáo, hôn lễ là một sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi vì đây là bí tích được Chúa ban cho loài người, người trong đạo gọi là Bí tích hôn phối. Người Công giáo chỉ chấp nhận hôn lễ đồng đạo. Do đó, nếu một trong hai người, cô dâu hay chú rể là người ngoài đạo sẽ phải trải qua một khóa học trong thời gian nhất định và khi chính thức là tín đồ của Công giáo, hôn lễ mới được tổ chức.

Nghi thức đầu tiên trong hôn lễ của người Công giáo là chọn địa điểm. Đối với những người theo đạo, nhà thờ là nơi linh thiêng nhất nên cũng là nơi họ thích chọn nhất để tổ chức đám cưới. Họ tin rằng đám cưới được thực hiện tại đây sẽ được sự chứng kiến của Chúa. Chúa sẽ làm người chứng giám và che chở cho cuộc hôn nhân kết nối hai con chiên ngoan đạo của Người.

Trong nghi thức hôn lễ không thể thiếu người chứng giám, được hiểu là người đại diện cho Đức Chúa như cha xứ, linh mục. Một đám cưới của người Công giáo có thể không được tổ chức tại nhà thờ nhưng không thể không có người chứng giám. Cha xứ hay linh mục là đại diện cho Đức Chúa trong buổi lễ quan trọng này, là người chứng giám và thể hiện ý Chúa cho phép hai người được lấy nhau.

Đám cưới của người Công giáo được coi như một hoạt động tôn giáo. Có cầu nguyện, các bài hát nhà thờ và một bài giảng kinh thánh về hôn nhân. Cũng như người phương Đông, đám cưới được tổ chức trước sự chứng kiến đông đảo của người thân, bạn bè của cô dâu, chú rể và tất nhiên không thể thiếu người chứng giám là linh mục.

Chú rể đã đứng đợi sẵn trên bục cao, trước mặt người chứng giám để đợi cô dâu. Cô dâu thường được cha hoặc người lớn tuổi của gia đình dẫn lên trao cho chú rể. Trước mặt người chứng giám, tất cả mọi người, cả hai nếu đồng ý lấy nhau sẽ nói lời hứa yêu thương nhau suốt đời. Những lời nói hứa của họ được công khai trước mặt mọi người. Lời hứa vô cùng quan trọng, nó không chỉ là lời cam kết gắn bó cuộc sống với nhau giữa hai vợ chồng mà còn mang ý nghĩa tâm linh như là lời hứa của họ với Chúa. Khi cả hai người đã đồng ý và hứa hẹn trước Chúa, người chứng giám sẽ tuyên bố hai người chính thức trở thành vợ chồng. Chú rể sẽ trao nhẫn và hôn cô dâu trước mặt mọi người như để công khai cuộc hôn nhân của họ với tất cả.

4. Nghi thức hôn lễ của đạo Tin Lành

Đạo Tin Lành không quy định một quy tắc bắt buộc nào cho nghi thức lễ thành hôn của tín đồ Tin Lành khắp mọi nơi. Tùy thuộc vào địa phương, cách thức sinh hoạt của Hội thánh, điều kiện thực tế của cô dâu, chú rể mà có cách thức tổ chức lễ thành hôn phù hợp. Đạo Tin Lành tách ra từ Công giáo trên cơ sở sự đơn giản nghi lễ, giáo lý nên hôn nhân của người theo đạo Tin Lành cũng đơn giản và ngắn gọn hơn Công giáo. Đạo Tin Lành không công nhận có Bí tích hôn phối nên trong lễ thành hôn chỉ có nghi thức bắt buộc tín hữu phải tuân theo, đó là lời thề trước sự chứng giám của Chúa và đôi vợ chồng mới phải nhớ những điều Chúa đã dạy trong Kinh Thánh về bổn phận của mình.

Hôn lễ của người Tin Lành cũng thường được tổ chức tại nhà thờ. Điều đầu tiên trong nghi thức hôn lễ của người theo đạo Tin Lành là lời hứa của đôi vợ chồng trước sự chứng giám của Chúa. Lời thề đó là: “Thề hứa trước mặt Chúa sẽ sống trọn đời bên nhau, không lìa nhau trong nghịch cảnh cũng như trong thuận cảnh”. Trong sự thề hứa hôn nhân, chỉ có cái chết mới chia lìa được hai người. Chồng còn sống bao lâu thì vợ buộc chặt với chồng bấy lâu, nếu chồng chết, vợ được tự do, lấy ai tùy ý miễn là theo ý Chúa.

Sau khi đã thực hiện lời thề hứa trước Chúa, cô dâu và chú rể sẽ trao nhau nhẫn cưới như một sự tuyên bố trước mặt Chúa và mọi người về việc mình đã nhận nhau làm vợ làm chồng. Khác với Công giáo, đạo Tin Lành không cần có sự chứng giám của mục sư vì đã có sự chứng giám của Chúa Trời. Sau khi đôi uyên ương trao nhẫn cưới, mục sư sẽ làm lễ cầu nguyện cho đôi vợ chồng mới được ơn Chúa trong đời sống hôn nhân mới của mình.

5. Nghi thức hôn lễ của đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài quan niệm việc hôn nhân giữa thanh niên nam nữ trong đạo là việc hợp tự nhiên, nên không khuyến khích thanh niên nam nữ sống độc thân để tu hành, bởi vì đạo Cao Đài cho rằng luật nhân quả thể hiện rõ rệt trong hôn nhân: Đôi vợ chồng cưới nhau là do tiền duyên oan trái từ kiếp trước. Cho nên, hôn nhân là thực thi nhân quả. Người nào sống độc thân được cho là người đó có ít oan trái, nghiệp quả nhẹ, nên sẽ tiến hóa rất nhanh khi vào đường tu hành. Hôn nhân còn là một phần trong Nhân đạo, nó sẽ tạo ra một số bổn phận tiếp theo như bổn phận làm chồng làm vợ, bổn phận làm cha làm mẹ. Nếu các bổn phận nầy được vuông tròn thì xong Nhân đạo, sẽ tiến lên tu phần Thiên đạo dễ dàng.

Trong sách Quan hôn tang lễ của đạo Cao Đài, phần hôn nhân có nêu rõ nghi thức hôn lễ của người theo đạo Cao Đài. Theo đó, người theo đạo Cao Đài không được kết hôn với người ngoại đạo. Người ngoài đạo phải đồng ý theo đạo mới được tổ chức lễ thành hôn. Trước ngày tổ chức hôn lễ 8 ngày, phải đăng thông báo tại Thánh thất sở tại. Khi làm lễ cưới, gả, hai họ phải xin phép lập lễ hôn phối tại Thánh thất hoặc Đền Thánh.

Nếu trong trường hợp bất khả kháng, không thể tổ chức hôn lễ tại Thánh thất Cao Đài, đạo quy định buộc chủ hôn nam nữ phải xin phép Đầu phận đạo (hay Đầu tộc đạo) việc kết hôn. Khi tổ chức hôn lễ, phải thỉnh Ban Trị sự hay Đầu phận đạo đến chứng sự hoặc hướng dẫn cách thực hành nghi lễ để tránh điều bất trắc. Đến ngày cưới, nhà trai mang đủ lễ vật qua nhà gái, trình lễ cưới theo đúng thủ tục. Sau phần đỉnh lễ Đức Chí Tôn và Hội thánh, chủ hôn bên nữ gọi con gái ra đứng cùng chàng rể, cùng nhau lễ Từ đường, kế tiếp làm lễ ra mắt họ hàng và đón dâu về nhà trai. Đoàn rước dâu đi ngay đến Thánh thất sở tại để làm Lễ Hôn phối, kế đến Đền thờ Phật Mẫu bái lễ cầu nguyện. Đến nhà bên trai, hai họ cùng cầu nguyện Đức Chí Tôn, rồi đến cặp tân hôn bái lễ Đức Chí Tôn, kỉnh lễ Hội thánh, kế tiếp, cô dâu chú rể lễ Từ đường. Sau cùng là làm lễ ông bà, cha mẹ và thân tộc. Nghi lễ thành hôn đến đây hoàn mãn. Nhà trai mở tiệc chay khoản đãi hai họ.

6. Nghi thức hôn lễ của người Chăm theo Hồi giáo

Quy định của giáo lý Hồi giáo buộc tín đồ chung sống với nhau phải thông qua hôn lễ, cho nên người Chăm theo Hồi giáo nào chung sống không thông qua lễ cưới hỏi là điều không tốt. Từ quan niệm đó, hôn nhân đóng một vai trò quan trọng trong đời sống người Chăm theo Hồi giáo và có thể nói đó là tiêu chuẩn đầu tiên để làm thước đo chuẩn mực của một tín đồ đạo Hồi.

Hệ tư tưởng của người Chăm theo Hồi giáo Bàni hay Hồi giáo Bàlamôn theo chế độ mẫu hệ nên trong phong tục cưới hỏi cũng có chút khác biệt. Khi cô gái đến tuổi trưởng thành, cha mẹ sẽ tìm trong vùng một chàng trai ưng ý để nhờ ông mai đến dạm hỏi. Người Chăm theo Hồi giáo quan niệm rằng việc dạm hỏi phải diễn ra thật kín đáo, âm thầm vì e rằng câu chuyện mai mối không thành sẽ gây ảnh hưởng đối với gia đình và thân phận của người con gái. Nếu cha mẹ đàng trai đồng ý thì định ngày cho phép bên nhà gái cử một số đại diện lại gia đình nhà trai để làm lễ hỏi, bấy giờ mới tiến hành lễ hỏi công khai.

Tới ngày ấn định tổ chức lễ hỏi, nhà gái sửa soạn các lễ vật truyền thống và cùng với ông mai qua nhà trai. Bên nhà trai thường cũng mời họ hàng thân tộc gần gũi nhất đến tiếp chuyện với đại diện họ nhà gái. Nếu không có việc gì trục trặc xảy ra thì họ cùng nhau bàn bạc về chuyện hôn nhân.

Sau khi lễ hỏi được hai bên đồng ý và thống nhất, nhà gái cử đại diện mang một ít bánh trái đến nhà ông ông mai để tạ ơn và nhờ ông mai đến gia đình đàng trai bàn bạc chính thức ngày tổ chức lễ đính hôn.

Lễ đính hôn là giai đoạn hai bên bàn bạc, đưa ra ngày chính thức để tổ chức đám cưới, đồng thời xác định lại chú rể có đồng ý lấy cô dâu hay không. Theo tục lệ, lễ đính hôn thường tổ chức vào ban đêm các ngày thứ Hai, thứ Ba theo lịch của người Chăm. Nghi thức đầu tiên là ông mai rót rượu khấn vái ông bà, Tổ tiên đàng trai báo cho biết là ngày đính hôn của một thành viên gia đình, đồng thời cầu mong ông bà, Tổ tiên phù hộ. Sau đó, người trưởng tộc của đàng trai đứng lên hỏi cô gái có đồng ý lấy anh ta làm chồng không. Cô gái trả lời ưng thuận thì lễ được chấp nhận. Ông hỏi tiếp chàng trai có chấp nhận cô gái làm vợ mình không. Nếu thuận cả hai thì đương nhiên lễ đính hôn hoàn thành.

Sau lễ đính hôn, người Chăm theo Hồi giáo có tục lệ chú rể tương lai phục vụ vô điều kiện cho nhà gái một tuần. Đây là việc thử thách người rể tương lai có giỏi hay không. Thường chú rể tương lai làm những công việc cày bừa, đi chặt củi, phụ việc lặt vặt trong gia đình nhà gái. Ngoài ra cùng thời gian này, cô dâu cũng sang nhà trai giúp việc như nấu cơm, gánh nước cho cha mẹ chồng tương lai của mình.

7. Kết luận

Hôn nhân là việc có ý nghĩa trọng đại của đời người, dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, hôn lễ đều được tổ chức theo những nghi thức hết sức trọng thể và trang nghiêm. Đó cũng là cách để đôi vợ chồng cảm nhận được ý nghĩa, vai trò và trách nhiệm của mình về gia đình và mối quan hệ vợ chồng và sự gắn kết cộng đồng. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, việc bảo tồn và phát huy những giá trị tích cực của lễ thành hôn theo nghi thức tôn giáo có ý nghĩa thiết thực trong việc duy trì nền tảng văn hóa, đạo đức và sự bền vững của đời sống hôn nhân./.

* Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo

Tài liệu tham khảo

1. Lê Như Hoa, Hôn lễ xưa và nay ở người Việt, Nxb. Văn hóa, 1998

2. Nguyễn Thanh Xuân, Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb.Tôn giáo, 2005

3. Nhiều tác giả, Người Chăm, Nxb Thông tấn, 2009

4. Đức Nguyên, Từ điển Cao Đài điện tử

5. Hòa thượng Thánh Nghiêm, Phật giáo Chính tín, Phân Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam dịch

6. Website Giacngoonline.