Từ khóa: Khái quát về tôn giáo; Chính sách tôn giáo; Cộng hòa Ba Lan.
Người Ba Lan tham gia cuộc rước Ba Vua1. Ba Lan và tôn giáo ở Ba Lan
Ba Lan tên gọi qua âm Hán của Poland. Vùng đất Ba Lan ngày nay, từ rất sớm đã có các cộng đồng dân, trong đó có người Giéc-manh cư trú, nhưng phải đến giai đoạn đầu thời kỳ trung cổ khi cuộc di cư người Slavơ đến đây mới ra đời các nhà nước. Vào khoảng thế kỷ XI, các vương quốc nhỏ ở Ba Lan thống nhất hình thành Nhà nước đầu tiên với vị vua đầu tiên là Bô-lê-xláp. Sau đó, hai vị vua danh tiếng là Bô-lê-xláp I (đầu thế kỷ XI), Ca-si-mi III (giữa thế kỷ XIV) đã có công lớn trong việc mở rộng lãnh thổ, đưa đất nước Ba Lan phát triển, nhất là về thương mại. Cuối thế kỷ XIV (1386), Ba Lan và Lít-va đã hợp nhất thành một quốc gia sau cuộc hôn nhân giữa công chúa Ba Lan với đại công tước Lít-va nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian.
Thế kỷ XVII, Ba Lan bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh với người Nga, người Thổ Nhĩ Kỳ, người Tác-ta, người Cô-dắc, người Thụy Điển, cuối cùng Ba Lan đã biến mất khỏi bản đồ châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII. Thế kỷ XIX, người dân Ba Lan và Lít-va liên tiếp nổi lên khởi nghĩa chống lại Nga, Áo và Phổ nhưng đều thất bại. Phải đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Ba Lan mới giành lại được chủ quyền. Chiến tranh thế giới lần hai (1939-1945), biên giới Ba Lan di chuyển dần từ Đông sang Tây qua việc đất nước lại bị chia cắt, một phần thuộc Đức, một phần thuộc Nga.
Năm 1945, Ba Lan được Liên Xô giải phóng và trở thành nước Xã hội chủ nghĩa (1947) với tên gọi là Cộng hòa nhân dân Ba Lan. Sau chiến tranh thế giới lần Thứ hai, Ba Lan bị mất vùng lãnh thổ ở phía Đông giáp Liên Xô nhưng bù lại, được mở rộng ở phía Bắc và phía Tây giáp với Đức. Đầu những năm 1980, Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan phát triển mạnh tạo ảnh hưởng đối với xã hội. Để đến năm 1989, Công đoàn Đoàn kết lên nắm quyền thay Đảng Cộng sản, đưa Ba Lan sang thể chế chính trị mới đa nguyên và lập nền Cộng hòa hỗn hợp theo chế độ lưỡng viện (Hạ nghị viện và Thượng nghị viện), còn gọi là nền Cộng hòa III (Đệ tam Cộng hòa). Hiến pháp hiện hành được thông qua năm 1997.
Ki-tô giáo truyền vào khu vực Tây Âu sớm hơn so với Đông Âu. Hầu hết các nước Đông Âu theo Ki-tô giáo khoảng cuối thế kỷ IX, người dân Ba Lan theo Ki-tô giáo năm 966 (người Nga theo Ki-tô giáo năm 988) với vai trò của vị vua đầu tiên là Bô-lê-xláp. Chính Vua Bô-lê-xláp là người cải đạo theo Ki-tô giáo mở ra sự phát triển của Ki-tô giáo ở Ba Lan. Điều đáng quan tâm, sau năm 1054, Ki-tô giáo phân đôi: Công giáo và Chính Thống giáo. Đại đa số các nước Đông Âu như: Nga, U-crai-na, Bê-la-rút,… chuyển sang theo Chính Thống giáo, các nước Tây Âu theo Công giáo. Nước Ba Lan vẫn giữ theo Công giáo. Sau này, thế kỷ XVI, cải cách tôn giáo - đạo Tin Lành, nhiều nước Tây Âu, trong đó có nước Đức, đa số cư dân chuyển sang theo Tin Lành, nhưng Ba Lan vẫn theo Công giáo.
Công giáo gắn với lịch sử Ba Lan từ khi hình thành Nhà nước cho đến hiện nay qua các giai đoạn lịch sử. Trong lịch sử, Công giáo ở Ba Lan trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng dân tộc và là động lực cho các cuộc khởi nghĩa chống lại sự xâm lược từ bên ngoài. Công giáo còn góp phần rất quan trọng hình thành văn hóa, lối sống, đạo đức của quốc gia này.
Ngoài Công giáo, ở Ba Lan có các cộng đồng tôn giáo khác, như: Chính Thống giáo gắn với người U-crai-na, Bê-la-rút,…đạo Tin Lành gắn với người Đức, người Thụy Điển,… và Phật giáo gắn với cộng đồng người Việt Nam.
2. Chính sách tôn giáo ở Ba Lan
Nếu xét về thời gian luật pháp liên quan đến tôn giáo, Ba Lan là một trong những nước đã đề cấp đến tôn giáo từ cuối thế kỷ XVIII. Hiến pháp Ba Lan năm 1791 - Hiến pháp của Nhà nước quân chủ lập hiến, chịu ảnh hưởng của Hiếp pháp Anh và Pháp. Hiến pháp Ba Lan năm 1791 xác định: “Tôn giáo quốc gia chính thống đã và sẽ là Công giáo La Mã thiêng liêng cùng với tất cả đặc quyền và miễn trừ của tôn giáo này; Nhưng tôn giáo thiêng liêng này cũng yêu cầu chúng ta yêu thương láng giềng, bởi vậy, chúng ta mang ơn mọi người không phân biệt niềm tin, hòa bình trong vấn đề niềm tin và sự bảo vệ của Chính phủ; Hệ quả là chúng ta cần bảo vệ tất cả các niềm tin và tự do tôn giáo và tự do, theo các quy định pháp luật của quốc gia, và trong mọi vùng lãnh thổ”. Như vậy, từ rất sớm Ba Lan đã có nguyên tắc hiến định về tự do tôn giáo.
Thời kỳ trước năm 1989, Ba Lan cũng như nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của Liên Xô ở những mức độ khác nhau trên các lĩnh vực, trong đó có vấn đề tôn giáo. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó có tín đồ Công giáo chiếm đại đa số nên Giáo hoàng thứ 264 ở ngôi từ năm 1978 đến năm 2005 - Giáo hoàng Gioan Phao-lô II sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở Ba Lan.
Khi nền Cộng hòa mới được thành lập năm 1989, trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1997, vấn đề tôn giáo được bàn thảo tạo sự tranh luận xã hội với hai xu hướng khác nhau: Một là xu hướng cánh tả và chủ nghĩa tự do ủng hộ mô hình ứng xử với tôn giáo theo kiểu Liên Xô cũ và Pháp; Một xu hướng với đa số là chức sắc Công giáo được sự hỗ trợ của cánh hữu và Công đoàn Đoàn kết phản ứng xu hướng cánh tả, cho rằng mô hình này mang lại những tác động tiêu cực đến tôn giáo. Trên cơ sở thỏa hiệp giữa các lực lượng chính trị, Hiến pháp năm 1997 của Ba Lan đã xác định những nguyên tắc ứng xử với tôn giáo. Cụ thể:
“1- Mọi người được đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
2- Quyền tự do tôn giáo bao gồm cả tự do theo hoặc chấp nhận một tôn giáo bằng trực tiếp lựa chọn cũng như bầy tỏ ý chí đối với tôn giáo đó, một cách cá nhân hoặc tập thể, một cách công khai hoặc bí mật, bằng việc thờ cúng, cầu nguyện, tham gia vào các buổi lễ, tiến hành các nghi thức hoặc giảng đạo. Quyền tự do tôn giáo bao gồm cả việc sở hữu thánh đường hoặc các nơi thờ cúng khác để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, cho dù có thể ở bất cứ đâu, được lợi từ các hoạt động tôn giáo.
3- Cha mẹ có quyền đảm bảo cho con mình một sự giáo dục và dạy dỗ về đạo đức tôn giáo phù hợp với nhận thức của mình. Những quy định tại Khoản 1, Điều 48 sẽ được áp dụng khi phù hợp.
4- Tôn giáo của nhà thờ hoặc của các tổ chức tôn giáo khác được pháp luật công nhận có thể giảng dạy trong nhà trường, nhưng quyền tự do về tôn giáo và tín ngưỡng khác của con người sẽ không bị vi phạm.
5- Quyền tự do biểu đạt công khai về tôn giáo chỉ có thể hạn chế bởi luật và trong trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức hoặc tự do và các quyền của người khác.
6- Không ai có thể bị ép tham gia hoặc không tham gia các hoạt động tôn giáo.
7- Không ai có thể bị cơ quan nhà nước ép buộc bày tỏ triết lý sống, nhận thức hoặc niềm tin tôn giáo của mình” (Điều 53).
Trong các nguyên tắc nói trên, có điều cần quan tâm là Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ của tổ chức tôn giáo đồng nghĩa với việc cho phép tổ chức tôn giáo có quyền duy trì hệ thống luật lệ riêng. Một số hoạt động của tổ chức tôn giáo có giá trị pháp lý dân sự, như: đám cưới, bằng tốt nghiệp của các trường tôn giáo,… Ngược lại, Nhà nước có nghĩa vụ tạo điều kiện cho tổ chức tôn giáo thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, như cho phép dạy tôn giáo trong các trường học, có linh mục linh hướng (tuyên úy) trong quân đội, bệnh viện,…
Trong chính sách đối với tôn giáo, Nhà nước Ba Lan rất chú trọng khuyến khích các tôn giáo tham gia các hoạt động an sinh xã hội. Tổ chức từ thiện xã hội Công giáo lớn nhất là Caritas Polska với chi phí bình quân hằng năm là 50 triệu USD đối với những người thất nghiệp, vô gia cư, người già không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi,… Riêng lĩnh vực giáo dục, Giáo hội Công giáo có 1.240 trường mẫu giáo và tiểu học với 130 nghìn học sinh, 420 trường trung học với 83 nghìn học sinh, 70 trường đại học với 100 nghìn sinh viên, trong đó có những trường đại học nổi tiếng, như: Đại học Tổng hợp Công giáo Lublin, Đại học Tổng hợp Công giáo Stefan Wyszynski. Trong lĩnh vực y tế, Giáo hội Công giáo có 33 bệnh viện quy mô lớn, 244 phòng cấp cứu, 267 nhà dưỡng lão, 538 trại trẻ mồ côi,…
3. Mối quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo
Là quốc gia Công giáo có ảnh hưởng lớn, nên theo những nguyên tắc nói trên, mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội Công giáo được thể chế hóa để có sự phối hợp một cách hiệu quả. Mối quan hệ giữa Nhà nước Ba Lan với Giáo hội Công giáo ở hai cấp độ: với Tòa thánh Vatican và với Giáo hội Công giáo Ba Lan.
Trước hết về quan hệ giữa Nhà nước Ba Lan với Vatican. Năm 1919, ngay sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Ba Lan đã thiết lập quan hệ với Vatican. Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới lần Thứ hai, Toà thánh Vatican không công nhận Nhà nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan mà duy trì mối quan hệ ngoại giao với Chính phủ Ba Lan lưu vong tại Anh cho đến năm 1958. Từ năm 1971, Cộng hòa nhân dân Ba Lan và Vatican tiến hành các cuộc đàm phán để thiết lập quan hệ ngoại giao. Và, ngay sau khi có sự thay đổi về thể chế chính trị từ năm 1989, Chính phủ Cộng hòa Ba Lan và Vatican đã thết lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ. Tháng 10/1989, Thủ tướng Ba Lan chọn Vatican là điểm đến của chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trong nhiệm kỳ. Năm 1991, Tổng thống Ba Lan cũng đến thăm Tòa thánh Vatican. Năm 1993, Ba Lan ký với Vatican bản Giao ước nhưng vì nhiều lý do, đến năm 1998 mới được Quốc hội và Tổng thống Ba Lan phê chuẩn.
Ba Lan là quốc gia Công giáo chiếm số đông, có vai trò đối với Giáo hội Công giáo hòan vũ, và đặc biệt Giáo hoàng thứ 264 là Gioan Phao-lô II là người Ba Lan nên được Giáo triều Vatican rất quan tâm. Trong thời gian đương nhiệm, Giáo hoàng Gioan Phao-lô II có đến bảy lần thăm Ba Lan vào các năm 1979, 1983, 1987, 1991, 1999 và 2002. Sau này, Giáo hoàng Gioan Phao-lô II được phong Á Thánh (Chân phước) năm 2011 và phong Thánh năm 2014 càng tăng thêm niềm vui và lòng tự hào của người Công giáo Ba Lan. Các đời Giáo hoàng Bê-nê-đíc XVI thăm Ba Lan năm 2006, Giáo hoàng Phan-xi-cô thăm Ba Lan năm 2016.
Quan hệ với Giáo hội Công giáo Ba Lan cũng được Nhà nước Ba Lan quan tâm. Năm 1949, Nhà nước Ba Lan và Giáo hội Công giáo Ba Lan thành lập Ủy ban hỗn hợp. Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên Ủy ban hỗn hợp hoạt động cầm chừng và không có hiệu quả. Phải đợi đến cuối những năm 1980, Ủy ban hỗn hợp họp thường xuyên và bắt tay vào việc xây dựng dự thảo Luật về quan hệ Nhà nước Ba Lan với Giáo hội Công giáo. Năm 1989, sau khi thể chế chính trị mới được thành lập, Quốc hội Ba Lan đã thông qua Luật Quan hệ giữa Nhà nước Ba Lan và Giáo hội Công giáo Ba Lan (gọi chung là Luật Quan hệ Nhà nước và Giáo hội). Cùng với đó thành lập Ủy ban chung gồm đại diện Nhà nước và đại diện Giáo hội (gọi là Ủy ban Nhà nước và Giáo hội) nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa hai bên.
Sau khi Luật Quan hệ Nhà nước và Giáo hội được thông qua và Ủy ban Nhà nước và Giáo hội được thành lập, mối quan hệ giữa Nhà nước Ba Lan và Giáo hội Công giáo được tăng cường theo hướng đồng thuận và chia sẻ. Nhiều vấn đề được tháo gỡ, như giảng dạy môn tôn giáo trong trường học, chính sách xã hội liên quan đến hôn nhân và gia đình, bảo hiểm xã hội cho các linh mục, vấn đề tài chính của Giáo hội Công giáo,… Riêng ở Ba Lan có quỹ tôn giáo được sử dụng bằng ngân sách nhà nước và sự đóng góp của Giáo hội Công giáo để phục vụ lợi ích cho tất cả các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân (có khoảng 160 tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân tại Ba Lan năm 2008). Quỹ tôn giáo của Nhà nước được xác định các nội dung tài trợ, như: Bảo hiểm cho các chức sắc tôn giáo; Hỗ trợ các hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo; Hỗ trợ việc đào tạo, giáo dục và phòng chống các tội phạm xã hội; Sửa chữa, tu bổ các công trình tôn giáo có giá trị di sản văn hóa,…
Với đất nước Công giáo chiếm đa số nhưng trong quan hệ và ứng xử với các tôn giáo, Ba Lan giữ nguyên tắc bình đẳng. Hiến pháp 1997 của Ba Lan ghi rõ: “Các nhà thờ và các tổ chức tôn giáo có quyền bình đẳng như nhau… Quan hệ giữa Cộng hòa Ba Lan với các nhà thờ và các tổ chức tôn giáo khác được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng sự tự quản và độc lập lẫn nhau của mỗi bên trong phạm vi của mình, cũng như trên cơ sở nguyên tắc hợp tác vì lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể… Quan hệ giữa Cộng hòa Ba Lan với các nhà thờ và các tổ chức tôn giáo khác sẽ được quyết định bằng các đạo luật được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận được ký kết giữa những người đại diện phù hợp với các tổ chức tôn giáo và Hội đồng Bộ trưởng” (Điều 25).
Ở Ba Lan với những định chế về mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức tôn giáo, nhất là với Công giáo nên đã hình thành Ủy ban Nhà nước và Giáo hội để thực hiện các mối quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo. Ủy ban Nhà nước và Giáo hội, gồm: Bộ trưởng Bộ Nội vụ (đồng Chủ tịch), Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng Bộ Lao động; Về phía Hội đồng Giám mục có một vị Tổng giám mục (đồng Chủ tịch) và 05 giám mục là thành viên. Ủy ban Nhà nước và Giáo hội có quy chế hoạt động riêng.
4. Kết luận
Cộng hòa Ba Lan là một trong những quốc gia có những nét riêng về lịch sử, tôn giáo và văn hóa. Ba Lan là một quốc gia Công giáo - một tôn giáo có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Cùng với sự vận động phát triển thời hiện đại, Ba Lan đã trở thành quốc gia đa dạng về tôn giáo. Chính sách tôn giáo ở Ba Lan trải qua hai thể chế chính trị khác nhau, trước và sau năm 1989, được đánh dấu bằng những nội dung thể hiện trong Hiến pháp năm 1997.
Chính sách tôn giáo ở Ba Lan có hai nội dung quan trọng, Một là, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo cho mọi người, bình đẳng trong ứng xử với tôn giáo và đặc biệt phát huy vai trò của tôn giáo trong mọi mặt đời sống xã hội,…; Hai là, duy trì mối quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo, nhất là với Giáo hội Công giáo Ba Lan và với Giáo triều Vatican. Tất cả là hướng đến sự trân trọng, chia sẻ và đồng thuận giữa Nhà nước với tôn giáo và tạo điều kiện cho các tôn giáo đóng góp cho sự ổn định, phát triển của đất nước.
*Khoa Quan hệ Công chúng và Truyền thông, Đại học Văn Lang
Tài liệu tham khảo
1. Albert P. Blaustein, Jay A. Sigler, Các bản hiến pháp làm nên lịch sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.
2. Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Ba Lan, Hà Nội 2008.
3. Bộ Ngoại giao (Vụ châu Âu), Quan hệ nhà nước - Giáo hội Công giáo tại một số nước trên thế giới, Hà Nội, 2013.
4. Norman Davies, Sân chơi của Chúa - Lịch sử Ba Lan, tập 1 (Diệp Minh Tâm dịch), Nxb. Trí thức, Hà Nội, 2011.
5. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2016, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2016.
6. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tuyển tập hiến pháp một số quốc gia, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2012.
7. Mai Lý Quảng (Chủ biên), 252 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2010.