Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tri thức sử dụng cây cỏ trong chăm sóc sức khỏe của người Mnông

ThS. Nguyễn Kim Anh * - 10:57, 04/03/2026

(DTTG) - Tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số về việc sử dụng cây cỏ trong chăm sóc sức khỏe là một nguồn tài sản văn hóa vô cùng quý giá. Những tri thức sử dụng cây cỏ trị bệnh và chăm sóc sức khỏe của người Mnông không chỉ là một nguồn tài sản quý về văn hóa tộc người mà còn có ý nghĩa thực tiễn tích cực trong đời sống hiện nay.

Tóm tắt: Tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số về việc sử dụng cây cỏ trong chăm sóc sức khỏe là một nguồn tài sản văn hóa vô cùng quý giá. Cộng đồng người Mnông là một ví dụ cho việc gìn giữ và ứng dụng những tri thức này. Trong quan niệm, người Mnông tin rằng sức khỏe là sự hài hòa giữa con người, thiên nhiên và thế giới tâm linh. Việc chữa bệnh bao gồm các nghi lễ cúng bái và cách dùng thuốc. Cây cỏ được sử dụng để trị các triệu chứng bệnh lý và để phục hồi năng lượng, cân bằng cơ thể. Qua tìm hiểu tri thức sử dụng cây cỏ của người Mnông đã thống kê nhiều loại cây cỏ được sử dụng cho mục đích trị bệnh và chăm sóc sức khỏe. Những tri thức sử dụng cây cỏ trị bệnh và chăm sóc sức khỏe của người Mnông không chỉ là một nguồn tài sản quý về văn hóa tộc người mà còn có ý nghĩa thực tiễn tích cực trong đời sống hiện nay.

Từ khóa: Người Mnông; Cây cỏ; Chăm sóc sức khỏe.


Thầy cúng thực hiện nghi lễ cúng sức khỏe
Thầy cúng thực hiện nghi lễ cúng sức khỏe

1. Đặt vấn đề

Mnông có tên gọi khác: P’nông, Mnông Nông, Mnông Pré, Mnông Bu đâng, ĐiPri, Biat, Mnông Gar, Mnông Rơ Lam, Mnông Chil, Mnông Kuênh,… Tiếng nói dân tộc Mnông thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Tuy nhiên, trong vốn từ vựng Mnông ít nhiều chịu ảnh hưởng của tiếng Ê-đê thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo (ngữ hệ Nam Đảo). Theo số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, tổng dân số người Mnông là 127.334 người; Dân số nam: 62.002 người; Dân số nữ: 65.332 người; Quy mô hộ: 4,5 người/hộ; Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 93,8%. Người Mnông là tộc người bản địa, sinh sống lâu đời ở vùng Tây Nam Trường Sơn thuộc các tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước và vùng giáp ranh Đồng Nai, Tây Ninh... Tuy số người Mnông không phải là đông nhưng người Mnông đã tạo dựng được một không gian văn hóa đặc sắc, có những nét riêng độc đáo. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, do đó, từ rất lâu, mỗi cộng đồng tộc người ở từng vùng đều xây dựng và hình thành những quan niệm và cách thức chăm sóc sức khỏe cho mình. Những quan niệm truyền thống của người Mnông về bệnh tật, nguyên nhân và cách chữa bệnh tật, hiện vẫn có tác động nhất định đến hoạt động chăm sóc sức khỏe của cộng đồng tộc người.

2. Quan niệm về sức khỏe, bệnh tật của người Mnông

Trong vũ trụ quan của người Mnông, thế giới được chia thành nhiều tầng, với một con đường thiêng liêng nối liền “tầng trời” và “tầng trên mặt đất”. Ở mỗi tầng thế giới, bên cạnh các vị thần lành cai quản, còn tồn tại các thế lực xấu như thần dữ và ma quỷ. Quan niệm này hình thành một hệ thống nhận thức mang tính biện chứng, người Mnông tin rằng sự tồn tại của cái thiện và cái ác là một quy luật phổ quát của cuộc sống. Bệnh tật là dấu hiệu cho thấy có sự mất cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và thế giới thần linh, là biểu hiện của sự quấy nhiễu, trừng phạt hoặc xung đột với các thế lực siêu nhiên, do đó, việc chữa bệnh là thực hành các nghi lễ tâm linh để xua đuổi tà ma và cầu xin sự che chở từ các vị thần lành. Điều này lý giải, các thầy cúng và già làng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống chữa bệnh truyền thống của người Mnông. Họ là những người trung gian, có khả năng giao tiếp và làm hài lòng các thế lực siêu nhiên để giải trừ bệnh tật cho cộng đồng. Các nghi lễ và tục cúng sức khỏe của người Mnông không chỉ đơn thuần là hành động mang tính tôn giáo mà còn đóng vai trò như một liệu pháp tinh thần vô cùng hiệu quả. Khi tham gia vào các hoạt động này, người bệnh và gia đình cảm thấy được che chở, an tâm và có thêm niềm tin để đối phó với bệnh tật. Trong bối cảnh hiện đại, khi hệ thống y tế đã trở nên phổ biến, một số gia đình vẫn duy trì tục cúng sức khỏe như một cách để giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc và như một liệu pháp tâm lý để động viên tinh thần.

3. Kho tri thức sử dụng cây cỏ chăm sóc sức khỏe của người Mnông

Trong quá trình sinh tồn và phát triển, người Mnông đã tích lũy kho tri thức bản địa phong phú về sử dụng cây cỏ chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. Những tri thức này được hình thành do nhu cầu sinh tồn của một cộng đồng, nó không chỉ là những kinh nghiệm tích lũy từ sự thích ứng của một tộc người với môi trường tự nhiên, mà còn phản ánh những mối quan hệ và tương tác xã hội. Vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nhà nhân học Arthur Kleiman (1978) đưa ra luận điểm rằng, hầu hết các hệ thống chăm sóc sức khỏe bao gồm 3 khu vực: Khu vực phổ thông (khu vực người dân, không chuyên môn), khu vực dân gian (thầy lang, thầy cúng, pháp sư…) và khu vực chuyên môn (Tây y, bác sỹ, y sỹ…). Hệ thống chăm sóc sức khỏe này thường tồn tại cùng nhau trong một cộng đồng, thể hiện sự đa dạng cũng như sự kết hợp chồng chéo, linh hoạt. Dưới góc độ trong nghiên cứu nhân học, khu vực dân gian là khu vực chăm sóc sức khỏe quan trọng gồm đa dạng các quan niệm và thực hành trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đó là những niềm tin, sự lựa chọn, quyết định trong tổng hòa các mối quan hệ, tương tác, nguyên tắc, luật tục, kiêng kỵ, văn hóa… của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội trong chăm sóc sức khỏe.

Trong tri thức chăm sóc sức khỏe dân gian, các tộc người phần lớn sử dụng các loại cây cỏ có trong địa bàn cư trú của mình, trở thành cây thuốc để chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe. Cây cỏ là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài dưới tác động của tự nhiên, còn tri thức là kết quả từ quá trình đấu tranh sinh tồn của con người được đúc kết bằng kinh nghiệm, tích lũy và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đặc biệt những tri thức bản địa về chăm sóc sức khỏe, là những tri thức luôn cần thiết cho sự sinh tồn không chỉ của một tộc người mà của cả nhân loại.

Người Mnông cư trú lâu đời tại vùng núi rừng cao nguyên nên tích lũy nguồn tài nguyên cây thuốc vô cùng phong phú. Nhiều loại cây cỏ sử dụng cho mục đích chăm sóc sức khỏe, phần lớn những cây cỏ có giá trị làm thuốc mọc tự nhiên trong rừng, ven bờ suối, đường đi, trên rẫy và trong vườn nhà. Họ thường thu hái, sử dụng các cây thuốc phổ biến khi có bệnh và chỉ cất giữ (sao tẩm, phơi khô, ngâm rượu...) các cây thuốc quý, hiếm. Những bộ phận như thân, cành, lá được người Mnông sử dụng làm thuốc phổ biến nhất. Ngoài ra, họ còn sử dụng các loại quả, hạt, rễ, củ, vỏ cây… Tùy theo từng loại bệnh, người Mnông còn kết hợp nhiều bộ phận của các loại cây thuốc khác nhau để chữa bệnh. Cách thức chế biến thuốc phổ biến để chữa bệnh là phơi khô sắc nước uống, nhai sống đắp, nuốt hay ngâm rượu uống. Thuốc của người Mnông chia thành ba loại: thuốc bổ, thuốc độc và thuốc chữa bệnh. Trong đó, thuốc bổ được người Mnông sử dụng bằng cách chế biến thức ăn hằng ngày như nấu canh, ăn sống, luộc. Họ hạn chế mua rau củ ở chợ mà thường dùng những loại rau củ trồng ở rẫy hay vườn nhà để sử dụng. Họ cho rằng những thức ăn rau cải, cà, bí, mướp tự trồng trên rẫy tốt hơn cho sức khỏe, vì, những thức ăn này sinh trưởng và phát triển tự nhiên, không được chăm bón bởi thuốc. Họ không có điều kiện mua thịt, mua cá ăn hằng ngày, thức ăn chủ yếu là các loại rau hái ở rẫy, trong vườn. Phần lớn người Mnông chọn những thức ăn sạch sẽ để giữ gìn sức khỏe, là những loại rau được trồng ở rẫy không phân bón và thuốc hóa học. Một số loại cây được người Mnông sử dụng thường xuyên, như cây chùm pao, tiếng Mnông gọi là pra ya, giúp khỏe người, ngủ ngon cùng các loại rau rừng phổ biến như đọt mây, rau nhíp, đọt chuối rừng, các loại rau rừng… Chuối rừng (tơm prit yu) được người Mnông trị đau lưng, nhức mỏi. Chuối rừng được thu hái lấy quả, quả chuối được phơi khô, sau đó ngâm rượu, uống hằng ngày có tác dụng trị đau lưng, nhức mỏi trong người.

Người Mnông sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh rất linh hoạt, có một số cây thuốc dùng để chữa nhiều bệnh khác nhau như cây ổi chữa đau bụng còn chữa cả đau răng, giảm sốt, cầm máu, cũng có nhiều cây thuốc chữa một loại bệnh đau bụng như cây ổi, cây bằng lăng (tơm xi kruã), cây R’nhau. Những cây thuốc để chữa bệnh thường đa dạng hơn thuốc bổ, tùy theo từng lứa tuổi, giới tính và từng bệnh cụ thể mà có các loại thuốc chữa bệnh khác nhau. Tri thức chữa các loại bệnh thông thường như: đau răng, tiêu chảy, cầm máu, đau lưng, sốt, cảm… hầu hết người Mnông trong cộng đồng ai cũng biết, còn các bệnh nan y, bệnh nặng, khó chữa như: Tim, dạ dày, gan, mật, gãy chân tay, trật khớp, ho lao, trĩ… thường do các thầy lang, thầy hum, bà mụ nắm giữ. Những phương thuốc chữa bệnh nặng không phổ biến rộng rãi trong cộng đồng, do một số thầy lang, thầy hum, bà mụ và một số gia đình người Mnông nắm giữ như của gia truyền, không truyền dạy lại cho người ngoài. Trong các loại thuốc thông thường, loại thuốc dành cho trẻ em và phụ nữ thường nhiều hơn. Hầu hết phụ nữ Mnông đều được mẹ truyền cho những kinh nghiệm dùng những loại rễ, lá uống sau khi sinh, giúp cơ thể mau hồi phục, có nhiều sữa cho con bú và đi làm sớm, như cây si lao, dùng rễ phơi khô nấu nước uống, có tác dụng làm tan máu tử cung cho sản phụ sau khi sinh hay nhánh vú sữa chà sát vào ngực để chữa chứng mất sữa của phụ nữ đang cho con bú.

Cùng với các phương thuốc, người Mnông cũng hình thành quan niệm mang sắc thái tâm linh trong tri thức bản địa về chăm sóc sức khỏe, như việc kiêng kỵ trong điều trị bệnh... Đối với điều trị bệnh đau mắt hột, người Mnông quan niệm phải kiêng ăn thịt gà, không đi nắng, không tắm nước bẩn. Nhìn chung, trải qua quá trình sinh tồn, người Mnông đã hình thành những tri thức bản địa về chăm sóc sức khỏe. Những tri thức này được người Mnông lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác chủ yếu bằng truyền khẩu.

3. Kết luận

Ngày nay, đời sống của người Mnông hiện nay có nhiều thay đổi. Trong sản xuất, các loại cây công nghiệp như điều, cà phê, cao su, tiêu... dần dần thay thế cây lúa. Các nguồn di dân từ nơi khác đến khiến diện tích đất canh tác của người Mnông và diện tích rừng ngày càng thu hẹp. Một số chính sách định canh định cư cũng tác động lớn đến môi trường sống của người Mnông, trong đó có việc người Mnông không còn sống gần rừng là nguồn cung cấp chủ yếu các cây thuốc. Sự thay đổi của môi trường sống, tập tục canh tác đã dẫn đến xu hướng ngày càng mất đi khả năng khôi phục nguồn tài nguyên cây thuốc và những tri thức sử dụng cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe của người Mnông. Bên cạnh đó, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa, sự phát triển của y học hiện đại đã tác động làm mất dần tri thức sử dụng cây cỏ trong chăm sóc sức khỏe của người Mnông. Hiện nay, bệnh nặng hay nhẹ, người Mnông thường đến tiệm thuốc Tây, tới trạm y tế hay đến bệnh viện, chỉ khi chữa Tây y không khỏi họ mới tìm đến thầy hum hay những người biết cách chữa bệnh dân gian của cộng đồng mình. Chỉ có người phụ nữ Mnông khi sinh đẻ, nuôi con vẫn còn dùng hình thức chữa bệnh dân gian của cộng đồng mình. Nhiều phụ nữ Mnông vẫn chọn hình thức sinh con tại nhà do bà mụ đỡ.

* Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo

1. Trần Hồng Hạnh (2005), Tri thức địa phương - sự tiếp cận lý thuyết, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr.22-23.

2. Trần Hồng Hạnh (2002), Tri thức địa phương sử dụng thuốc Nam của người Dao Đỏ, Tạp chí Dân tộc học, số 5, 2002, tr.23-30.

3. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2023), Điều tra tài nguyên cây thuốc sử dụng trong một số cộng đồng ở tỉnh Đắk Nông, Luận văn thạc sĩ Học viện Khoa học và Công nghệ.

4. H’Thi, Tục cúng sức khỏe của người Mnông, https://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau-cac-dan-toc-viet-nam/tuc-cung-suc-khoe-cua-nguoi-mnong-585263.vov, ngày 17/10/2017.

5. Lưu Đàm Cư (2015), Nghiên cứu tri thức bản địa trong sử dụng và bảo tồn tài nguyên sinh vật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn bản sắc dân tộc của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên, Báo cáo tổng hợp đề tài TN3/T13, Chương trình Tây Nguyên 3.

6. Trần Công Khánh, Trần Văn Ơn, Phạm Kim Mân (2010), Cẩm nang sử dụng và phát triển cây thuốc ở Việt Nam, Nxb. Y học, Thành phố Hồ Chí Minh.