Bài viết phân tích vai trò ngày càng quan trọngcủa truyền thông trong thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểusố và miền núi trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Truyền thông không chỉhỗ trợ phổ biến tri thức, thay đổi hành vi, nâng cao năng lực cộng đồng, mà còntrở thành công cụ chiến lược trong bảo tồn văn hóa, thúc đẩy sinh kế bền vữngvà mở rộng kết nối thị trường. Bài viết đề xuất nhóm giải pháp nhằm phát huy tốiđa vai trò của truyền thông trong thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bàodân tộc thiểu số và miền núi.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) trở thành yêu cầu chiến lược, gắn liền với mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo đảm an sinh xã hội và gìn giữ bản sắc văn hóa. Tuy nhiên, đây là khu vực còn đối mặt với nhiều thách thức đặc thù như địa hình phức tạp, hạn chế về tiếp cận dịch vụ xã hội, hạ tầng thông tin còn thiếu đồng bộ và trình độ dân trí không đồng đều. Những yếu tố này khiến quá trình truyền tải tri thức, khuyến nông - khuyến lâm, nâng cao nhận thức cộng đồng và triển khai các chương trình phát triển gặp nhiều rào cản.
Trong bối cảnh đó, truyền thông (TT) giữ vai trò then chốt, không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà còn là động lực thúc đẩy thay đổi xã hội. TT giúp lan tỏa tri thức khoa học, định hướng hành vi, quảng bá tiềm năng kinh tế, hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn ngôn ngữ và giá trị văn hóa tộc người. Sự phát triển của công nghệ số mở ra cơ hội tạo lập không gian TT mới, giúp người dân vùng đồng bào DTTS&MN tiếp cận tri thức một cách linh hoạt và bình đẳng hơn.
Tuy vậy, sự thiếu hụt về kỹ năng số, rào cản ngôn ngữ, tình trạng thông tin sai lệch và chênh lệch trong tiếp cận công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu một cách hệ thống vai trò của TT trong phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN. Đây là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp, bảo đảm TT trở thành động lực thực sự của tiến trình phát triển trong bối cảnh hội nhập.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Truyền thông tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
TT tại vùng đồng bào DTTS&MN phản ánh bức tranh đa chiều, trong đó tồn tại đồng thời những tiến bộ đáng ghi nhận và những khoảng trống lớn cần tiếp tục được thu hẹp để bảo đảm TT trở thành động lực cho phát triển bền vững.
Thứ nhất, hệ thống TT đại chúng tại các địa bàn miền núi đã có sự mở rộng đáng kể. Nhiều tỉnh đã đầu tư nâng cấp đài phát thanh - truyền hình, sản xuất các chương trình song ngữ hoặc đa ngữ, đáp ứng nhu cầu thông tin của các nhóm dân tộc khác nhau. Báo chí Trung ương và địa phương tăng cường chuyên trang, chuyên mục về vùng đồng bào DTTS&MN, góp phần quảng bá mô hình sản xuất, bảo tồn văn hóa và truyền tải chính sách đến người dân. Tuy nhiên, mức độ phủ sóng truyền hình, phát thanh và Internet vẫn có sự khác biệt lớn giữa các vùng. Nhiều bản làng vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo còn gặp tình trạng tín hiệu yếu, thiếu ổ cứng lưu trữ, hoặc không có thiết bị thu phát phù hợp, khiến người dân phụ thuộc nhiều vào thông tin truyền miệng.
Thứ hai, TT số đã mở ra cơ hội mới giúp một bộ phận thanh niên miền núi nhanh chóng tiếp cận mạng xã hội, nền tảng video, thương mại điện tử… tạo nên các mô hình khởi nghiệp gắn với chuyển đổi số để quảng bá sản phẩm. Tuy vậy, phần lớn người dân vẫn hạn chế về kỹ năng số, thiếu thiết bị thông minh, chi phí kết nối cao và chưa được đào tạo về an toàn thông tin. Điều này dẫn đến “khoảng cách số kép”: vừa thiếu khả năng tiếp cận hạ tầng, vừa hạn chế năng lực sử dụng, khiến truyền thông số chưa thực sự lan tỏa rộng.
Thứ ba, TT cộng đồng vẫn giữ vị trí trung tâm trong đời sống thông tin của nhiều cộng đồng dân tộc. Hình thức loa truyền thanh, sinh hoạt thôn bản, lễ hội cộng đồng, đặc biệt là mạng lưới già làng, trưởng bản, người có uy tín tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong truyền tải thông tin, giải thích chủ trương chính sách và định hướng hành vi. Tuy nhiên, nội dung TT cộng đồng ở nhiều nơi còn thiên về tuyên truyền một chiều, thiếu tương tác, chưa khai thác tri thức địa phương và kinh nghiệm truyền miệng của đồng bào.
Thứ tư, chất lượng nội dung TT nhìn chung đã có cải thiện nhưng vẫn tồn tại những hạn chế. Một số thông tin về phát triển KT-XH chưa phù hợp với đặc thù vùng đồng bào DTTS&MN; thông điệp TT thiếu sự điều chỉnh theo ngôn ngữ, phong tục, lối tư duy của từng tộc người; kỹ năng truyền thông dân tộc học chưa được chú trọng trong đào tạo. Đồng thời, sự xâm nhập mạnh mẽ của thông tin sai lệch qua mạng xã hội đã gây ra không ít khó khăn, đặc biệt ở những khu vực nhạy cảm về tôn giáo, dân tộc hoặc an ninh biên giới.
Thứ năm, sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí, chính quyền cơ sở và các tổ chức xã hội còn thiếu đồng bộ. Cơ chế huy động cộng đồng tham gia sản xuất nội dung TT còn hạn chế, trong khi đây là yếu tố quyết định để xây dựng thông điệp phù hợp văn hóa và tăng cường sự tin cậy.
Nhìn chung, TT tại vùng đồng bào DTTS&MN đã từng bước phát triển song vẫn tồn tại những khoảng trống lớn về hạ tầng, kỹ năng, nội dung và phương thức tiếp cận. Tình hình này đặt ra yêu cầu xây dựng chiến lược TT bền vững, đa tầng, đa ngữ và lấy cộng đồng làm trung tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số.
2.2. Vai trò của truyền thông đối với phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
2.2.1. Thúc đẩy tiếp cận tri thức và đổi mới phát triển
TT giữ vai trò then chốt trong việc mở rộng không gian tri thức và thúc đẩy đổi mới phát triển tại vùng đồng bào DTTS&MN, nơi vốn chịu hạn chế về hạ tầng, nguồn lực và cơ hội tiếp cận thông tin. Thông qua các nền tảng truyền thông đa phương tiện, tri thức khoa học kỹ thuật, thông tin thị trường, mô hình sinh kế hiệu quả và kinh nghiệm quản trị cộng đồng được lan tỏa nhanh chóng, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi. TT không chỉ truyền tải thông tin một chiều mà còn tạo ra môi trường tương tác xã hội, nơi người dân được tham gia phản biện, chia sẻ nhu cầu và kinh nghiệm địa phương, từ đó hình thành quá trình đồng kiến tạo tri thức mang tính bền vững.
Trong bối cảnh hội nhập, TT trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo thông qua việc kết nối các chủ thể phát triển như cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng. Những nội dung TT hướng đến chuyển đổi số, kinh tế xanh, du lịch sinh thái, bảo tồn tri thức địa phương và khởi nghiệp góp phần định hướng mô hình phát triển mới phù hợp với đặc thù văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS&MN. Đồng thời, truyền thông giúp tăng cường năng lực tiếp nhận tri thức của người dân thông qua việc nâng cao kỹ năng số, tạo điều kiện để họ tiếp cận các dịch vụ công, thông tin thị trường và cơ hội kinh tế trong không gian số. Qua đó, TT trở thành nền tảng thúc đẩy sự chủ động, sáng tạo và hội nhập hiệu quả của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trong tiến trình phát triển bền vững quốc gia.
2.2.2. Giữ gìn và lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc
TT đóng vai trò then chốt trong việc bảo tồn, phục hồi và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập. Một mặt, truyền thông giúp số hóa, hệ thống hóa và tái hiện các tri thức địa phương, nghi lễ, phong tục, ngôn ngữ và nghệ thuật dân gian vốn đang đứng trước nguy cơ mai một bởi quá trình đô thị hóa, biến đổi lối sống và áp lực kinh tế. Thông qua báo chí, phát thanh - truyền hình, nền tảng số và TT cộng đồng, những giá trị này được ghi chép, lưu trữ và phổ biến rộng rãi, góp phần tạo dựng “không gian văn hóa số” cho các tộc người.
Mặt khác, TT còn thúc đẩy sự lan tỏa của văn hóa dân tộc theo hướng hiện đại, sáng tạo và phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của xã hội đương đại. Việc quảng bá các sản phẩm văn hóa, lễ hội truyền thống, mô hình du lịch cộng đồng hay nghệ thuật diễn xướng dân tộc trên các nền tảng số không chỉ nâng cao nhận thức xã hội mà còn tạo nguồn lực kinh tế mới cho cộng đồng. Đồng thời, TT góp phần định hướng cách thức tiếp biến văn hóa, tránh nguy cơ thương mại hóa cực đoan, làm sai lệch bản sắc.
Đặc biệt, TT tạo ra diễn đàn để đồng bào tự khẳng định bản sắc văn hóa của mình, qua đó củng cố chủ quyền văn hóa, tăng cường tự hào dân tộc và nâng cao năng lực tham gia vào quá trình phát triển bền vững. Trong tổng thể phát triển vùng, TT vì vậy không chỉ là công cụ truyền tải, mà là tác nhân tích cực góp phần bảo vệ, tái tạo và lan tỏa bản sắc văn hóa trong thời kỳ hội nhập.
2.2.3. Thúc đẩy sinh kế bền vững và kết nối thị trường
TT đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh kế bền vững và kết nối thị trường cho đồng bào DTTS, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Thông qua các kênh TT đa phương tiện, thông tin về kỹ thuật sản xuất nông - lâm nghiệp, mô hình canh tác bền vững, quản lý tài nguyên thiên nhiên, cũng như các cơ hội kinh doanh và tiếp cận thị trường được phổ biến rộng rãi. Điều này giúp đồng bào nâng cao năng lực sản xuất, giảm rủi ro, đồng thời tối ưu hóa giá trị gia tăng của sản phẩm địa phương.
TT cũng là công cụ chiến lược trong việc quảng bá sản phẩm địa phương, như OCOP, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm nông - lâm đặc sản, thông qua mạng xã hội, thương mại điện tử, truyền hình và các sự kiện giao thương. Việc này không chỉ mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn tăng khả năng thu hút đầu tư, kết nối doanh nghiệp và hợp tác xã với cộng đồng, từ đó tạo ra chuỗi giá trị bền vững và ổn định.
Đặc biệt, TT giúp định hướng cách thức tiếp cận thị trường một cách có trách nhiệm, nhấn mạnh phát triển sinh kế gắn với bảo tồn tài nguyên và văn hóa địa phương. Việc lan tỏa kiến thức về quản trị kinh tế, tiếp cận thông tin thị trường và kỹ năng marketing số góp phần trao quyền cho cộng đồng, nâng cao khả năng tự chủ và chủ động trong các hoạt động kinh tế. Như vậy, TT không chỉ là phương tiện truyền tải thông tin mà còn là động lực tạo lập sinh kế bền vững, kết nối hiệu quả giữa cộng đồng vùng đồng bào DTTS&MN với thị trường trong nước và quốc tế.
2.2.4. Tăng cường sự tham gia và trao quyền cho đồng bào
TT đóng vai trò trung tâm trong việc tăng cường sự tham gia và trao quyền cho đồng bào DTTS, từ đó thúc đẩy quá trình phát triển bền vững gắn với đặc thù văn hóa và nhu cầu cộng đồng. Thông qua các kênh TT đa dạng, bao gồm truyền thông cộng đồng, phát thanh - truyền hình địa phương, mạng xã hội và nền tảng số, người dân được tiếp cận thông tin về chính sách phát triển, quyền lợi, cơ hội kinh tế và các chương trình hỗ trợ từ Nhà nước và tổ chức xã hội. Sự tiếp cận này không chỉ nâng cao nhận thức mà còn tạo tiền đề để đồng bào tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định, từ khâu hoạch định đến giám sát thực thi các dự án phát triển.
Việc trao quyền thông qua TT còn được thể hiện trong các mô hình TT tham gia, nơi cộng đồng chủ động xác định nhu cầu, sản xuất thông điệp và phản hồi nội dung TT, tạo nên cơ chế hai chiều thay vì truyền đạt một chiều. Điều này đặc biệt quan trọng tại các vùng đồng bào DTTS&MN, nơi tri thức địa phương và kinh nghiệm truyền thống có giá trị lớn trong hoạch định giải pháp phát triển địa phương.
Đồng thời, TT góp phần củng cố năng lực lãnh đạo địa phương, nâng cao sự tự tin và chủ động của các nhóm dân tộc trong việc bảo vệ quyền lợi, tham gia xây dựng chính sách và điều chỉnh hành vi xã hội theo hướng bền vững.
2.2.5. Góp phần bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu
TT đóng vai trò chiến lược trong việc nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và thúc đẩy hành động của đồng bào DTTS trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Vùng đồng bào DTTS&MN vốn là khu vực có hệ sinh thái đặc thù, giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng dễ bị tổn thương, do đó việc truyền tải thông tin về quản lý rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác tài nguyên hợp lý và phòng chống thiên tai là hết sức cấp thiết.
Qua các kênh TT đa dạng truyền thanh, truyền hình địa phương, nền tảng số, mạng xã hội, cũng như truyền thông cộng đồng dựa trên tri thức địa phương, người dân được tiếp cận thông tin về biến đổi khí hậu, tác động môi trường và các biện pháp thích ứng phù hợp với đặc thù vùng miền. TT không chỉ cung cấp kiến thức mà còn thúc đẩy đồng bào tham gia vào các hoạt động giám sát tài nguyên, dự án bảo vệ môi trường và các mô hình sinh kế xanh, tạo ra sự đồng thuận xã hội và trách nhiệm cộng đồng.
Hơn nữa, TT góp phần lan tỏa các giải pháp bền vững, khuyến khích áp dụng kỹ thuật canh tác thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng và bảo tồn văn hóa gắn với thiên nhiên. Qua đó, đồng bào không chỉ nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn trở thành chủ thể tích cực trong quá trình phát triển bền vững, vừa bảo vệ môi trường, vừa khai thác hiệu quả nguồn lực tự nhiên, đồng thời đảm bảo sự hài hòa giữa KT-XH và sinh thái trong bối cảnh hội nhập.
2.3. Những thách thức đối với truyền thông vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Thứ nhất, khoảng cách hạ tầng và năng lực công nghệ vẫn là rào cản lớn.
Thứ hai, khác biệt ngôn ngữ và văn hóa tạo nên thách thức trong việc thiết kế nội dung TT phù hợp.
Thứ ba, chất lượng và tính tương tác của nội dung TT vẫn hạn chế.
Thứ tư, sự xâm nhập của thông tin sai lệch và nội dung không phù hợp trên môi trường số tạo ra rủi ro về nhận thức, ảnh hưởng đến hành vi và quyết định của cộng đồng.
Thứ năm, thiếu đồng bộ trong phối hợp liên ngành giữa các cơ quan báo chí, chính quyền địa phương và tổ chức xã hội khiến TT chưa phát huy tối đa hiệu quả.
3. Thảo luận
Để phát huy vai trò quan trọng của TT trong phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN trong bối cảnh hội nhập, cần triển khai các định hướng và giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ, kết hợp cả yếu tố kỹ thuật, nội dung và cộng đồng, như: Một là, nâng cấp hạ tầng và công nghệ TT là điều kiện tiên quyết. Hai là, cải thiện chất lượng nội dung và phương thức truyền thông để đảm bảo phù hợp văn hóa, ngôn ngữ và tập quán của từng tộc người. Ba là, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác xã hội. Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng cần phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng kế hoạch, triển khai chương trình và giám sát hiệu quả truyền thông. Bốn là, truyền thông cần mang tính dài hạn. TT không chỉ tập trung vào lan tỏa thông tin tức thời mà còn hình thành hành vi, chuẩn mực xã hội và nhận thức về phát triển bền vững, khuyến khích đồng bào chủ động tham gia vào quá trình phát triển KT-XH, bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hóa… Vì vậy, TT cần được định vị không chỉ là công cụ thông tin mà còn là cầu nối biến chính sách thành hành động, vừa là chủ thể định hình các mối quan hệ xã hội, kinh tế và văn hóa, tạo nền tảng cho đồng bào DTTS tham gia chủ động, sáng tạo và hội nhập hiệu quả trong tiến trình phát triển bền vững.
4. Kết luận
TT đóng vai trò chiến lược trong việc thúc đẩyphát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN trong bối cảnh hội nhập, vừa làcông cụ truyền tải thông tin, vừa là động lực nâng cao năng lực, bảo tồn vănhóa và thúc đẩy sinh kế bền vững. Thực tiễn cho thấy, TT góp phần mở rộng tiếpcận tri thức, lan tỏa các mô hình phát triển, quảng bá sản phẩm địa phương, đồngthời củng cố nhận thức về bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu… Như vậy,TT không chỉ là phương tiện thông tin mà còn là yếu tố quyết định trong việctrao quyền cho đồng bào, thúc đẩy hành vi bền vững, bảo tồn văn hóa và nâng caonăng lực hội nhập. Khi được triển khai một cách đồng bộ, TT trở thành nền tảngquan trọng để đồng bào DTTS chủ động, sáng tạo tham gia vào quá trình phát triểnKT-XH bền vững và hội nhập.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS. TS. Lưu Văn An (2021), Giải pháp đẩy mạnh truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số, http://bienphongvietnam.gov.vn/giai-phap-day-manh-truyen-thong-o-vung-dan-toc-thieu-so.html
2. Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Chiến lược phát triển truyền thông vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Hà Nội: Nxb. Văn hóa dân tộc.
3. TS. Trần Quang Diệu (2020), Truyền thông chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Trung - Tây Nguyên trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-cua-dang/-/2018/825653/view_content
4. Tuệ Văn (2024), Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc, https://baochinhphu.vn/tang-cuong-chuyen-doi-so-linh-vuc-cong-tac-dan-toc-102241002201551824.htm