Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo vấn đề cốt lõi trong chính sách tôn giáo ở Việt Nam

TS. Lê Thị Liên - 05:46, 28/01/2026

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của mọi người, giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là mối quan tâm của mỗi quốc gia mà là vấn đề mang tính toàn cầu

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của mọingười, giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là mối quan tâm của mỗiquốc gia mà là vấn đề mang tính toàn cầu. Việt Nam là quốc gia có nhiều loạihình tín ngưỡng, tôn giáo, ước tính hiện có khoảng 95% dân số Việt Nam có đờisống tín ngưỡng, tôn giáo. Chỉ riêng tôn giáo có trên 27,7 triệu tín đồ (chiếmkhoảng 27% dân số), là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời trong khốiđại đoàn kết toàn dân tộc. Người dân Việt Nam có đời sống tâm linh phong phú,hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng, do vậy, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo là vấn đề cốt lõi trong chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ViệtNam.

1. Cơ sở thực tiễn để Việt Nam xác định đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề cốt lõi trong chính sách tôn giáo

Việt Nam nằm ở khu vực châu Á, là nơi giao lưu giữa các nền văn hóa Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc và sau này là các nền văn minh phương Tây. Quá trình phát triển với sự giao lưu tiếp biến văn hóa, Việt Nam đã hình thành hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở khắp các vùng, miền, phản ánh sự phong phú, đa dạng nhu cầu tâm linh của người Việt Nam trong truyền thống cũng như hiện tại. Ngày càng có nhiều tín đồ, người dân tìm đến các địa điểm hành hương liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo (một loại hình du lịch tâm linh) để tham dự vào các lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo, trải nghiệm, chiêm bái và bồi bổ các giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo.

Tại Việt Nam, trước tác động của tình hình tôn giáo thế giới, thành quả đổi mới đất nước diện mạo tôn giáo không ngừng phát triển đa dạng hơn về loại hình, tổ chức và địa bàn hoạt động, tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội. Năm 2003 Việt Nam đã công nhận 12 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo và Hồi giáo). Giai đoạn từ 2004 - 2024, sau hơn 20 năm thực hiện kể từ khi thực Nghị quyết số 25/NQ-TW và Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam đã công nhận 41 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, tăng 27 tổ chức và 10 tôn giáo; số tín đồ các tôn giáo hiện là 27,7 triệu, chiếm 27,7% dân số; trên 54,5 ngàn chức sắc; trên 144 ngàn chức việc; hơn 29,8 ngàn cơ sở thờ tự1. Trong đó có những tôn giáo du nhập từ nước ngoài như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo (Islam), Bàlamôn, Baha’i, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam và Minh Sư đạo; Các tôn giáo hình thành từ trong nước: Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Minh Lý đạo Tam Tông Miếu, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

Trong quá trình phát triển các tôn giáo đã tận dụng thành tựu của khoa học công nghệ cho hoạt động tôn giáo. Tận dụng, sử dụng khoa học công nghệ để truyền tải nội dung, thông điệp cũng như truyền đạo một cách trực tiếp, gián tiếp để phát triển tín đồ, gia tăng số lượng chức sắc, chức việc tạo lập tổ chức và cơ sở tôn giáo mới nhất là vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

2. Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề cốt lõi trong chính sách tôn giáo

Việc ban hành chủ trương, chính sách về tôn giáo là cơ sở quan trọng bậc nhất và cũng là thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, là cơ sở ổn định xã hội trong lĩnh vực tôn giáo. Mỗi một giai đoạn, công tác tham mưu ban hành chủ trương, chính sách đều có sự kế thừa, phát triển để phù hợp với tình hình đất nước và sự phát triển tình hình tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng cốt lõi và xuyên suốt là đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày một tốt hơn.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự do tôn giáo, tín ngưỡng là quyền căn bản của con người, nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn chặt và đồng hành cùng với lợi ích của quốc gia, của dân tộc Việt Nam. Do vậy, quyền ấy chỉ có giá trị đích thực khi nó gắn với độc lập dân tộc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân cần phải được tôn trọng và bảo đảm dựa trên cơ sở tôn trọng đức tin tôn giáo của mỗi người và không có ai được xâm phạm quyền, ép buộc, cản trở quyền đó. Do vậy, ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 03/9/1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Tư tưởng này vừa như là lời cam kết của người đứng đầu nhà nước với người dân về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vừa trở thành quan điểm xuyên suốt của Việt Nam về tôn giáo.

Khi đất nước thống nhất và bước vào giai đoạn đổi mới, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Việt Nam tiếp tục được khẳng định ở hai Nghị quyết quan trọng vào năm 1990 Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới và Nghị quyết số 25/NQ-TW năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX Về công tác tôn giáo. Chủ trương, chính sách trong giai đoạn hiện nay vừa kế thừa các quan điểm về tôn giáo các giai đoạn trước, vừa tiếp tục đổi mới cả trên phương diện nhận thức và yêu cầu trong công tác tôn giáo trong tình hình mới. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục là tâm điểm trong các quan điểm của Đảng về tôn giáo. Theo đó Việt Nam tiếp tục khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội2. Quan điểm này phản ánh đúng tính tất yếu khách quan sự tồn tại và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo, nhu cầu tôn giáo của người dân, nhưng còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc khi vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo vào thực tiễn của Việt Nam. Quan điểm này đồng thời khắc phục tư tưởng chủ quan, duy ý chí của một bộ phận cán bộ cho rằng tôn giáo sẽ mất đi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII của Đảng tiếp tục khẳng định những quan điểm cốt lõi về tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Nghị quyết số 25/NQ-TW, đặc biệt trong trong báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, nhấn mạnh ba quan điểm: (1) Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc; (2) Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật; (3) Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội3. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là nhu cầu mà còn gắn với trách nhiệm giữ gìn và nâng cao truyền thống xã hội.

Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thực tiễn Việt Nam yêu cầu công tác tôn giáo phải thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; phải quan tâm giải quyết một cách hợp lý nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng; giữ gìn và phát huy giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chống phá đất nước.

3. Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thực thi chính sách tôn giáo của Việt Nam

Để chủ trương, chính sách về tôn giáo đi vào cuộc sống của người dân và đồng bào tôn giáo thì việc thể chế hóa chủ trương, chính sách thành các quy định của pháp luật là biện pháp cốt lõi để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Thể chế hóa các quan điểm của Đảng giai đoạn từ 1990 đến 2003, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 69/HĐBT, ngày 21/3/1991 Quy định về các hoạt động tôn giáo tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tôn giáo và quản lý các hoạt động tôn giáo trong giai đoạn đầu những năm đổi mới; chín năm sau Chính phủ ban hành Nghị định số 26/1999/NĐ-CP về các hoạt động tôn giáo thay thế Nghị định số 69/HĐBT. Thể chế hóa Nghị quyết số 25 thì ngày 18/6/2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Pháp lệnh không chỉ nâng lên một bước về mặt pháp lý, mà còn bao quát khá cơ bản các hoạt động tôn giáo. Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và yêu cầu trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong giai đoạn mới, ngày 01/12/2016 Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn vừa tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết 25/NQ-TW, khắc phục những hạn chế trong Pháp lệnh, đồng thời thể chế hóa quyền con người theo Điều 24 Hiến pháp năm 2013 “mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước tôn trọng và bảo hộ”4.

Việc cụ thể hóa quan điểm, chính sách tôn giáo không chỉ đưa chính sách tôn giáo vào cuộc sống, còn tạo ra hành lang pháp lý đảm bảo cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo trong hoạt động. Đảm bảo tốt hơn quyền tự do của mọi người trong việc lựa chọn đức tin, ổn định tình hình tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy giá trị văn hóa đạo đức và nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Hạn chế việc lợi dụng tôn giáo vào các hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá Việt Nam của các thế lực cực đoan. Đảm bảo tính thống nhất, khả thi cho cán bộ và chính quyền các cấp trong thực thi.

Về phương diện quản lý các hoạt động tôn giáo đến nay Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, chưa kể một số tổ chức được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung. Chấp thuận cho các tổ chức tôn giáo thành lập các trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo vừa đáp ứng số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành hoạt động tôn giáo hiện tại vừa đội ngũ kế cận đảm bảo hoạt động tôn giáo theo quy định, phục vụ tốt hơn nhu cầu tôn giáo của tín đồ. Hoạt động phong phẩm, bổ nhiệm và thuyên chuyển địa bàn hoạt động đối với các chức sắc, chức việc, nhà tu hành đã trở thành thường xuyên và đáp ứng nhu cầu hướng dẫn các sinh hoạt tôn giáo cho tín đồ.

Trải dài khắp đất nước Việt Nam đều có các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, hoạt động tôn giáo sôi động, nhiều lễ hội tôn giáo đã thu hút đông đảo không chỉ tín đồ, quần chúng Nhân dân trong nước mà cả tín đồ, khách nước ngoài tham gia như: Lễ Phục sinh của Công giáo, Tin Lành; lễ Phật đản của Phật giáo, Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh Sư đạo; Đại lễ Thượng ngươn, Lễ vía Đức Thích Ca, Long Hoa Linh Dụ... trong các Hội thánh Cao Đài; Lễ vía Đức Thích Ca Phật Tổ của Hội thánh Minh Lý tổ chức tổ chức; Thánh lễ Naw - Ruz (Tết Baha’i); Tháng Ramadan và tháng Ramưwan của cộng đồng Hồi giáo; Lễ Phật đản của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn; đại lễ tam hợp của Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (ngày đản sinh Đức Bổn sư - ngày Đức Bổn sư thành đạo - ngày khai đạo).

Trong những năm gần đây quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân còn được thể hiện rõ nét và ở phạm vi rộng rãi trong hoạt động hành hương, hoạt động du lịch tâm linh liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Tại Việt Nam, du lịch tâm linh gắn bó mật thiết với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó nổi bật là Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hồi giáo và các loại hình tín ngưỡng khác và trở thành một phần trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Theo đó nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, các doanh nghiệp đã đầu tư và tổ chức hoạt động du lịch tâm linh đáp ứng nhu cầu của tín đồ và người dân. Thống kê của ngành du lịch và các địa phương cho thấy hiện nay các địa điểm tâm linh liên quan đến tín ngưỡng chiếm số lượng người tham gia đông như Đền Hùng, đền Thượng (Lào Cai), Cửa Ông (Quảng Ninh); Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Phòng), miếu Bà Chúa Xứ và nhiều đền, phủ khác. Liên quan đến Phật giáo là khu vực Bái Đính, Tam Chúc ở Ninh Bình, Yên Tử ở Quảng Ninh, chùa Hương ở Hà Nội, Núi Bà Đen ở Tây Ninh… Với Công giáo hoạt động hành hương trở thành một phần quan trọng trong đời sống tín đồ với những địa điểm nổi tiếng như Trung tâm hành hương: Đức Mẹ La Vang tỉnh Quảng Trị; Thánh mẫu Tà Pao; Đức Mẹ Trà Kiệu Đà Nẵng, Đức Mẹ Núi Cúi tỉnh Đồng Nai; Đức Mẹ Măng Đen… thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham gia. Các hoạt động này mang đến cho người dân, tín đồ sự chiêm ngưỡng và cầu mong, tạ ơn với đối tượng thờ mang tính thiêng (Thánh, Thần, Phật, Chúa, Đức Mẹ…). Cùng với đó là chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ thuật mang tính thiêng. Hoạt động du lịch tâm linh liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, người dân mà thông qua đó nâng cao ý thức và trách nhiệm trong giữ gìn, giáo dục đạo đức, văn hóa cho thế hệ sau. Đồng thời là minh chứng rõ nét về đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong chính sách tôn giáo của Việt Nam.

4. Kết luận

Thực tiễn lịch sử cách mạng ở Việt Nam cho thấy, việc bảo vệ và phát triểnquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân luôn được ưu tiên trong chínhsách tôn giáo, trở thành một trong những vấn đề lớn thu hút sự quan tâm của cộngđồng tôn giáo và cộng đồng quốc tế. Việc xây dựng và hoàn thiện chủ trương,chính sách là cơ sở lý luận để thể chế hóa thành các quy định của pháp luật, tạohành lang pháp lý cho cá nhân và tổ chức tôn giáo hoạt động. Tạo cơ sở để các tổchức tôn giáo xây dựng, phát triển đường hướng hành đạo phù hợp với mục tiêu ổnđịnh và phát triển đất nước. Là cơ sở quan trọng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo trong thực tiễn.

Chú thích

1. Thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) năm 2024.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003), Nghị quyết số 25/NQ-TW năm 2003 của khóa IX Về công tác tôn giáo.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021) Báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr 272.

4. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Điều 24.