Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Bảo tồn và phát triển tiếng dân tộc thiểu số - Tiếp cận từ kết quả thực hiện các chính sách

Trần Trí Dũng - 14:31, 24/04/2026

(DTTG) -Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc, tương ứng hệ thống ngôn ngữ phong phú, phản ánh bề dày lịch sử và tri thức văn hóa tộc người đặc sắc. Tuy nhiên, dưới tác động của toàn cầu hóa, đô thị hóa và xu thế đồng nhất ngôn ngữ trong giáo dục - truyền thông hiện đại, nhiều tiếng nói dân tộc thiểu số đang suy giảm môi trường sử dụng, thậm chí đứng trước nguy cơ mai một. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số. Bài viết phân tích một số kết quả triển khai thực hiện chính sách.

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có 535 trường học tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có 535 trường học tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số

Từ khóa: Tiếng dân tộc thiểu số; Chính sách ngôn ngữ; Giáo dục song ngữ; Bảo tồn văn hóa; Chuyển đổi số; Phát triển bền vững.

1. Chính sách bảo tồn, phát triển tiếng dân tộc thiểu số

Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, đó là ký ức tập thể, là hệ tri thức dân gian, là “bản đồ tinh thần” của mỗi cộng đồng. Một tiếng nói mất đi đồng nghĩa với một thế giới văn hóa bị thu hẹp lại.

Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Tiếng nói, chữ viết của mỗi DTTS vừa là vốn quý của dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của đất nước. Do đó, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là tôn trọng, bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các DTTS, coi đó là bộ phận cấu thành của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc yêu cầu: “Đẩy mạnh việc dạy và học chữ dân tộc”. Cụ thể hóa chủ trương này của Nghị quyết số 24-NQ/TW, Nhà nước đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Điều 2 Nghị định quy định rõ: “Nhà nước tập trung đầu tư, ưu tiên việc dạy và học tiếng DTTS đối với các DTTS ít người”.

Năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 76/NĐ-CP ngày 8/10/2019 về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn. Tại khoản 2 Điều 12 quy định: Nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục dạy tiếng DTTS được hưởng phụ cấp 50% mức lương hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Ngày 27/01/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 142/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Nâng cao chất lượng dạy học các môn tiếng DTTS trong chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn 2021-2030”.

Ngày 29/4/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Theo đó, bổ sung Điều 4a. Tổ chức in ấn, phát hành sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn dạy học tiếng DTTS; Điều 4b. Thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục thực hiện việc chuyển giao sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn dạy học tiếng DTTS do Bộ Giáo dục và Đào tạo in ấn, phát hành.

Căn cứ vào các chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông 2018, trong đó có nội dung triển khai thực hiện dạy 08 thứ tiếng DTTS thành môn tự chọn từ lớp 1 đến lớp 12. Năm 2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 34/ TT-BGDĐT quy định Chương trình giáo dục phổ thông môn học tiếng Ba na, tiếng Chăm, tiếng Ê-đê, tiếng Gia-rai, tiếng Khmer, tiếng Mông, tiếng Mnông, tiếng Thái. Ngày 22/11/2021, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ban hành Thông tư số 32/TT-BGDĐT hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Thông tư số 01/2025/TT-BGDĐT ngày 10/1/2025 về danh mục thiết bị dạy học tối thiểu tiếng DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên…

Bên cạnh đó, trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 cũng bố trí kinh phí để thực hiện nội dung bồi dưỡng tiếng DTTS.

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có 535 trường học tổ chức dạy tiếng DTTS. Trong đó, tiếng Chăm, Gia-rai, Ba na, Thái dạy ở cấp tiểu học; tiếng Ê-đê, Mông được dạy ở cấp tiểu học và trung học cơ sở; tiếng Khmer được triển khai dạy học ở cả 3 cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Đã có hàng chục nghìn học sinh ở các tỉnh Tây Nguyên, Nam Bộ, Tây Bắc… được học chữ của dân tộc mình trong trường học. Một số tiếng dân tộc đã được chuẩn hóa chữ viết, biên soạn giáo trình, sách giáo khoa. Dạy và học tiếng DTTS trong các cơ sở giáo dục giúp học sinh DTTS tiếp thu tri thức bằng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách dễ dàng hơn, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, lòng tự hào dân tộc.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương đã tổ chức 146 lớp với 7.160 học viên được bồi dưỡng tiếng DTTS.

2. Một số phát hiện từ kết quả điều tra

Theo kết quả điều tra thu thập thông tin 53 DTTS lần thứ III (năm 2024) do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) và Bộ Dân tộc và Tôn giáo công bố (tháng 11/2025), tỷ lệ hộ DTTS sử dụng tiếng DTTS của họ trong giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình đạt 74,8%. 31/53 DTTS có tỷ lệ giao tiếp trong gia đình chủ yếu bằng tiếng dân tộc của hộ cao hơn mức bình quân chung 74,8% trở lên.

Trên toàn quốc, trong tổng số 14.551.468 người DTTS, có 12.188.901 người từ 5 tuổi trở lên có khả năng nghe hiểu tiếng dân tộc mình, tương đương 83,76%. Tuy nhiên, con số này đồng nghĩa với việc khoảng 16% dân số, tương đương hơn 2,3 triệu người đã không còn hoặc không đủ khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp thường nhật. Đi sâu vào từng dân tộc, mức độ duy trì tiếng mẹ đẻ có sự phân hóa rất mạnh. Dân tộc Kháng có tỷ lệ cao nhất, đạt 92,2%; thấp nhất là dân tộc Ơ Đu 21,8%. Sự cách biệt lên tới hơn 70% là khoảng cách rất lớn giữa nhóm “giữ vững ngôn ngữ” và nhóm “báo động đỏ” trong cùng một hệ thống chính sách… Nhóm có tỷ lệ trên 85-90% tập trung chủ yếu ở các cộng đồng cư trú tương đối tập trung, không gian văn hóa còn bền chặt, như: Cơ-tu (88,68%), Ba na (89,06%), Gia-rai (88,32%), Ê-đê (88,93%), Khơ-mú (89,11%) hoặc Cơ-ho (89,6%). Đây là những cộng đồng mà tiếng mẹ đẻ vẫn được sử dụng thường xuyên trong gia đình, sinh hoạt cộng đồng và các thiết chế văn hóa địa phương. Thực tế này cho thấy một quy luật đáng chú ý: ngôn ngữ được duy trì hiệu quả nhất khi tồn tại trong môi trường sử dụng tự nhiên, liên tục, chứ không chỉ nhờ các biện pháp hành chính hay hoạt động bảo tồn.

Ngược lại, một số DTTS ghi nhận tỷ lệ duy trì tiếng mẹ đẻ rất thấp, cho thấy nguy cơ mai một nghiêm trọng. Đáng chú ý là: Ơ Đu (21,8%), Ngái (32,19%), Cơ Lao (44,79%), Sán Dìu (59,84%), La Ha (64,48%) hay Xinh-mun (67,73%). Như vậy, ở các tộc người này, số người còn sử dụng tiếng mẹ đẻ chỉ chiếm thiểu số trong cộng đồng. Về mặt ngôn ngữ học xã hội, khi tỷ lệ người nói xuống dưới ngưỡng 50%, ngôn ngữ khó có thể được truyền thừa tự nhiên giữa các thế hệ. Điều đó đồng nghĩa với nguy cơ “đứt gãy liên thế hệ”, giai đoạn tiền đề của quá trình biến mất ngôn ngữ. Đối với các DTTS rất ít người như Ơ Đu hoặc Ngái, sự suy giảm này càng đáng báo động, bởi chỉ cần một, hai thế hệ không còn sử dụng thường xuyên, ngôn ngữ dân tộc có thể chỉ còn tồn tại trong tư liệu sưu tầm.

Một phát hiện đáng chú ý khác là sự suy giảm không chỉ xảy ra ở nhóm DTTS ít người. Một số cộng đồng có quy mô dân số lớn vẫn ghi nhận tỷ lệ nghe hiểu tiếng mẹ đẻ thấp, như: Hoa (72,79%), Tày (76,45%), Sán Chay (76,05%) hay Sán Dìu (59,84%). Đây là những dân tộc có dân số từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu người. Vì thế, khi tỷ lệ giảm xuất hiện ở các dân tộc có số dân đông, hệ quả xã hội trở nên nghiêm trọng hơn nhiều, vì số người “mất tiếng mẹ đẻ” tính theo con số tuyệt đối có thể lên tới hàng chục, hàng trăm nghìn người. Điều này cho thấy quá trình đô thị hóa, giao lưu kinh tế và áp lực đồng nhất ngôn ngữ đang tác động mạnh đến cả những cộng đồng vốn có truyền thống văn hóa lâu đời. Như vậy, nguy cơ mai một ngôn ngữ không chỉ là vấn đề của các nhóm DTTS có dân số ít mà đang là thách thức với cả các DTTS có dân số đông.

Đây là một vấn đề xã hội cần quan tâm, phản ánh tính không đồng đều trong điều kiện cư trú, mức độ hội nhập kinh tế - xã hội và hiệu quả triển khai chính sách ở từng địa bàn. Điều đó cũng hàm ý rằng cần tiếp tục thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển ngôn ngữ DTTS, nhưng không thể áp dụng đồng loạt, mà cần thiết kế theo nhóm đối tượng, ưu tiên can thiệp khẩn cấp đối với các cộng đồng có tỷ lệ người DTTS nghe, hiểu được ngôn ngữ của dân tộc mình dưới 50%, đồng thời củng cố và phát huy những mô hình đang vận hành hiệu quả

3. Một số đề xuất chính sách

Khi hơn 2,3 triệu người DTTS từ 5 tuổi trở lên không còn nghe, nói, hiểu tiếng mẹ đẻ thì vấn đề không chỉ còn là bảo tồn văn hóa thuần túy mà đã trở thành bài toán phát triển con người, bình đẳng giáo dục và an ninh văn hóa quốc gia. Vì vậy, hệ giải pháp cần tiếp cận tổng thể, liên ngành.

Trước hết, bảo tồn tiếng DTTS cần được tích hợp vào chiến lược phát triển văn hóa, giáo dục và công tác dân tộc, thay vì tồn tại như các dự án riêng lẻ. Nhà nước cần có cơ chế tài chính ổn định, dài hạn cho việc dạy và học tiếng DTTS để tạo ra được những tác động tích cực, bền vững. Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí theo dõi “sức sống ngôn ngữ” để đánh giá định kỳ, từ đó ưu tiên nguồn lực cho các dân tộc có tỷ lệ người từ 5 tuổi trở lên nghe, nói, hiểu tiếng của dân tộc mình dưới 50% vì đây là nhóm đang đứng trước nguy cơ đứt gãy ngôn ngữ DTTS liên thế hệ.

Thứ hai, giải pháp mang tính nền tảng nhất nằm ở giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ. Thực tiễn quốc tế và trong nước đều cho thấy trẻ em học tốt hơn khi được tiếp cận kiến thức bằng ngôn ngữ quen thuộc. Vì vậy, cần mở rộng mô hình dạy học song ngữ ở bậc mầm non và tiểu học tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xem tiếng DTTS là cầu nối, không phải rào cản trong giáo dục phổ thông bắt buộc. Cùng với đó là đào tạo, tuyển dụng giáo viên là người địa phương; chuẩn hóa chữ viết, giáo trình; tăng thời lượng và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng sinh động, gắn với văn học dân gian, trò chơi, nghệ thuật truyền thống. Khi học sinh DTTS tự hào và cảm thấy tiếng dân tộc “có ích”, ngôn ngữ mới được truyền thừa tự nhiên.

Thứ ba, bên cạnh vai trò quan trọng của nhà trường thì gia đình và cộng đồng phải trở thành chủ thể trung tâm của bảo tồn ngôn ngữ DTTS. Ngôn ngữ không thể sống nếu chỉ tồn tại trong vài tiết học mỗi tuần. Vì thế, cần khuyến khích sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt gia đình, trong các cuộc họp thôn bản, lễ hội, nghi lễ và hoạt động văn hóa cộng đồng. Vai trò của già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín cần được phát huy như những “hạt nhân ngôn ngữ”. Việc truyền dạy truyện kể, dân ca, sử thi, luật tục bằng tiếng dân tộc không chỉ giúp giữ tiếng nói mà còn duy trì hệ tri thức, phần cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ tư, gắn bảo tồn ngôn ngữ với phát triển sinh kế và kinh tế văn hóa, nhất là trong du lịch. Gắn bảo tồn ngôn ngữ với phát triển sinh kế và kinh tế văn hóa không đồng nghĩa với việc sử dụng đơn thuần tiếng dân tộc trong giao tiếp, bởi nếu du khách không hiểu, giá trị kinh tế khó hình thành. Cách tiếp cận phù hợp là tổ chức cơ chế song ngữ, trong đó tiếng DTTS giữ vai trò bản sắc và trải nghiệm, còn tiếng phổ thông hoặc ngoại ngữ đóng vai trò cầu nối thị trường. Người DTTS có thể thuyết minh, diễn xướng, kể chuyện dân gian bằng tiếng mẹ đẻ rồi chuyển ngữ, tạo nên cảm xúc chân thực mà vẫn đảm bảo khả năng tiếp nhận thông tin. Đồng thời, ngôn ngữ được tích hợp vào thương hiệu sản phẩm, tên gọi địa danh, nhãn mác, lễ hội, nghệ thuật trình diễn. Khi trở thành lợi thế cạnh tranh và mang lại nguồn thu nhập cụ thể, tiếng DTTS không chỉ được giữ gìn, mà được sử dụng chủ động như một nguồn lực phát triển. Đây là cách tiếp cận “bảo tồn thông qua phát triển”, giúp ngôn ngữ DTTS trở thành nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ năm, trong bối cảnh hiện đại, chuyển đổi số là công cụ quan trọng, nhưng tuyệt đối không thể thay thế các nền tảng xã hội - giáo dục của ngôn ngữ. Việc số hóa từ điển, xây dựng kho ngữ liệu, phát triển ứng dụng học tiếng hay sản xuất nội dung truyền thông bằng tiếng DTTS trên nền tảng số có thể góp phần bảo tồn tri thức và tăng khả năng tiếp cận của thế hệ trẻ - nhóm đang dịch chuyển mạnh sang môi trường mạng. Tuy nhiên, nếu trong gia đình trẻ em không nói tiếng mẹ đẻ, trong trường học không được dạy bài bản, trong cộng đồng không có không gian sử dụng thường xuyên, thì các sản phẩm số dù hiện đại đến đâu cũng chỉ dừng lại ở mức “trưng bày kỹ thuật số”.

Thực tế cho thấy, một ngôn ngữ chỉ sống khi nó được sử dụng hằng ngày trong giao tiếp, lao động và đời sống văn hóa. Công nghệ khi đó mới phát huy vai trò “bộ khuếch đại”, giúp ngôn ngữ lan tỏa nhanh hơn, xa hơn. Vì vậy, cần đặt công nghệ đúng vị trí hỗ trợ, kết nối và tăng tốc cho các giải pháp giáo dục và cộng đồng, chứ không thay thế chúng. Nói cách khác, muốn ngôn ngữ tồn tại trên không gian số, trước hết phải bảo đảm nó tồn tại vững chắc trong đời sống thực.

4. Kết luận

Các kết quả phân tích định lượng cho thấy bức tranh về tiếng nói, chữ viết của các DTTS ở Việt Nam đang đứng trước những chuyển động trái chiều. Một mặt, tỷ lệ chung 83,76% người từ 5 tuổi trở lên còn nghe, hiểu tiếng mẹ đẻ khẳng định sức sống đáng kể của ngôn ngữ DTTS trong nhiều cộng đồng. Mặt khác, hơn 2,3 triệu người đã không còn khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc mình và gần 1/5 số dân tộc rơi vào vùng nguy cơ cao là tín hiệu cảnh báo rõ ràng về sự suy giảm liên thế hệ. Khoảng cách tới 70% người DTTS từ 5 tuổi trở lên có thể nghe nói, hiểu tiếng của dân tộc mình giữa nhóm cao nhất và thấp nhất cho thấy yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận. Bảo tồn ngôn ngữ không thể dừng ở sưu tầm, lưu trữ hay chỉ đưa vào trường học. Ngôn ngữ DTTS chỉ tồn tại khi được sử dụng thường xuyên trong đời sống gia đình, cộng đồng và gắn với sinh kế. Vì vậy, trọng tâm chính sách cần chuyển sang lấy giáo dục song ngữ làm nền tảng, cộng đồng làm chủ thể, kinh tế văn hóa làm động lực và chuyển đổi số làm công cụ hỗ trợ. Bảo tồn và phát triển tiếng DTTS, xét đến cùng, không chỉ là bảo vệ một di sản văn hóa, mà là bảo vệ quyền của các DTTS được nói bằng tiếng nói của chính mình và bảo đảm sự đa dạng, bền vững của nền văn hóa quốc gia. Đó vừa là trách nhiệm chính trị - xã hội, vừa là chiến lược lâu dài cho phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Hướng dẫn dạy học tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục phổ thông.

4. Cục Thống kê - Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Nxb. Kinh tế - Tài chính, 2025.

5. Dữ liệu thống kê do tác giả xử lý từ: Số người dân tộc thiểu số từ 5 tuổi trở lên có thể nghe, hiểu tiếng dân tộc mình (bảng số liệu gốc), Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Nxb. Kinh tế - Tài chính, 2025.

6. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.