Nếu trước đây, sinh kế của đồng bào chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp tự cung tự cấp, khai thác tài nguyên tự nhiên hoặc lao động giản đơn, thì hiện nay, đang phát triển các dạng sinh kế mới dựa trên sáng tạo nội dung số, thương mại điện tử.1. Từ tự phát tới đề án “thí điểm làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch” ở xã Lâm Bình
Từ 01/7/2025, xã Lâm Bình được hình thành trên cơ sở sáp nhập thị trấn Lăng Can, xã Phúc Yên và xã Xuân Lập. Sau sáp nhập, xã Lâm Bình có diện tích tự nhiên 327,65 km², quy mô dân số 12.500 người. Kế thừa trọn vẹn các thế mạnh kinh tế - xã hội cốt lõi của các địa bàn cũ trước khi sáp nhập, xã Lâm Bình sở hữu nhiều tiềm năng phát triển kinh tế văn hóa, kinh tế du lịch.
Thứ nhất, về không gian, cảnh quan, sinh thái, xã có địa hình nhiều núi đá vôi, các đỉnh núi nối tiếp nhau tạo nên sự trùng điệp, xen giữa các dãy núi là những cung đường uốn lượn quanh co, những bản làng xinh đẹp, những nương lúa, nương ngô xanh mướt; khí hậu mát mẻ; tỷ lệ che phủ rừng trên 78% với thảm rừng nhiệt đới xanh quanh năm, hệ động vật, thực vật đa dạng, phong phú, trong đó có nhiều loài quý hiếm là những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch.
Nằm ven lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, xã Lâm Bình được thiên nhiên ban tặng cho nhiều phong cảnh đẹp. Mỗi thắng cảnh đều chứa đựng những sự tích, huyền thoại, gắn với đời sống sinh hoạt từ ngàn đời của đồng bào các dân tộc nơi đây. Hòa quyện với núi rừng xanh thẳm và lòng hồ thủy điện Tuyên Quang rộng lớn là các thác nước với nhiều tầng thác, nguyên sơ đang chờ du khách đến trải nghiệm, khám phá.
Thứ hai, Lâm Bình là vùng đất đa dân tộc. Đồng bào Tày, Mông, Dao… ở đây tích cực gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá truyền thống, từ tiếng nói, chữ viết, trang phục, tín ngưỡng, tri thức dân gian, nghề truyền thống, các làn điệu dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian, kiến trúc nhà ở…; Có nhiều sản phẩm đặc sản: mật ong, nấm hương rừng, chè Khau mút, rượu ngô, rượu thóc men lá, cá lòng hồ,…; các món ăn đặc sắc: thắng cố, mèn mén, thịt chua, cá chua, cá mắm ruộng, xôi ngũ sắc, thịt lợn bí, bánh trứng kiến, bún cổ truyền, ốc suối, rêu suối, rau rừng, thịt trâu gác bếp, da trâu khô…; các loại thảo dược: giảo cổ lam, sâm đá, sâm cau, tầm gửi,…
Thứ ba, người dân bước đầu phát triển kinh tế số trên nền lợi thế cảnh quan, văn hóa dân tộc. Xã Lâm Bình có tỷ lệ hộ dân kết nối Internet (cáp quang 4G, 5G) đạt trên 80%. 75% hộ dân sử dụng điện thoại thông minh. Số lượng người tham gia các hoạt động sáng tạo nội dung số trên các nền tảng mạng xã hội YouTube, Facebook, Tiktok nổi trội hơn các địa phương khác. Tổng doanh thu từ các hoạt động sản xuất nội dung số năm 2025 của xã đạt 34,6 tỷ đồng. Các nhà sáng tạo nội dung số đóng góp nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân trên 1,5 tỷ đồng. “Ước tính 4 tháng đầu năm 2026, người dân ở xã miền núi Lâm Bình có doanh thu hơn 46 tỉ đồng từ YouTube, Facebook, TikTok. Lãnh đạo xã cho biết tiền thuế từ các nền tảng mạng xã hội chiếm hơn 23% tổng thu ngân sách xã”[4].
Ở các thôn: Phiêng Mơ, Bản Bon, Khau Ca, Nà Khậu, tỷ lệ người làm YouTuber,TikToker thành công, vươn lên làm giàu khá lớn, được mệnh danh là “làng tỷ phú”. Có những chủ kênh Youtube, TikTok đạt hàng triệu lượt xem, doanh thu hằng tháng lên đến hàng trăm triệu đồng. Nội dung đăng tải trên các nền tảng mạng xã hội chủ yếu phản ánh đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất, văn hóa truyền thống và cảnh quan thiên nhiên địa phương.
Như vậy, xã Lâm Bình hội tụ đầy đủ các điều kiện để phát triển kinh tế số cộng đồng: có tài nguyên thiên nhiên, nông lâm nghiệp, dược liệu đặc thù, tài nguyên văn hóa đặc sắc, có cộng đồng dân cư có khả năng tham gia hoạt động sáng tạo nội dung số, có nền tảng truyền thông số tự phát đã hình thành, có tiềm năng phát triển các sản phẩm hàng hóa đặc trưng. Những tiềm năng đó đặt trong bối cảnh phải đưa Nghị quyết số 57- NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào thực tiễn địa phương là cơ sở để triển khai xây dựng và cuối tháng 4/2026, chính quyền xã tiến hành công bố Đề án “Thí điểm Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030”, ra mắt sản phẩm du lịch mới “Một ngày làm YouTuber”. Sự kiện này nhận được sự chú ý đặc biệt của xã hội vì có lẽ đây là xã đầu tiên của vùng DTTS&MN, chính quyền địa phương đứng ra xây dựng đề án thí điểm để lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối, liên kết phát triển kinh tế số ở quy mô cộng đồng một cách có bài bản, có tổ chức.
Từ thực tiễn tự phát của người dân nhưng hiệu quả thu được rất tích cực, trong Đề án này, xã Lâm Bình đã nhận thức rõ đối với vùng đồng bào DTTS&MN thì kinh tế số không chỉ là xu thế mà còn là giải pháp mới, có tính đột phá để rút ngắn khoảng cách phát triển, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa tộc người nhằm nâng cao thu nhập và chất lượng sống của người dân. Trước mắt, thực hiện thí điểm tại các thôn đã có nền tảng nhằm hình thành một mô hình mẫu, sau đó đánh giá tổng kết trước khi nhân rộng trên địa bàn, trong đó kinh tế số giữ vai trò động lực, công nghệ số là công cụ, người dân là trung tâm, là chủ thể tham gia và thụ hưởng, chính quyền giữ vai trò kiến tạo và dẫn dắt.
Giai đoạn 2026-2028, xã Lâm Bình đề ra nhiều mục tiêu “tham vọng”: trên 60% hộ dân tham gia mô hình có ít nhất một hoạt động kinh tế số (bán hàng trên nền tảng số, thanh toán số, tham gia tạo nội dung số…); 60% hộ dân tham gia mô hình được tiếp cận hạ tầng số cơ bản, từng bước đáp ứng yêu cầu tham gia các hoạt động kinh tế số; thu hút trên 3.000 lượt khách du lịch vào năm 2028, từng bước hình thành các sản phẩm du lịch gắn với văn hóa, sinh thái và sáng tạo nội dung số; thu nhập của các hộ tham gia mô hình tăng tối thiểu 30% so với năm 2026 trên cơ sở khảo sát, đánh giá thu nhập bình quân hộ trước khi tham gia Đề án; thí điểm xây dựng và khai thác các không gian sáng tạo nội dung số gắn với du lịch (quay phim, chụp ảnh, trải nghiệm nghề truyền thống…) phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Giai đoạn 2029-2030, trên 90% hộ dân được đào tạo và tham gia hoạt động kinh tế số; số hóa, quảng bá từ 08 sản phẩm trở lên (nông lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, OCOP), từng bước nâng cao giá trị sản phẩm và khả năng tiêu thụ trên môi trường số; 100% điểm du lịch có nội dung giới thiệu được chuẩn hóa trên môi trường số; từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế số cộng đồng tại các thôn gắn với du lịch bền vững; phát triển thêm các mô hình sáng tạo nội dung, không gian trải nghiệm và dịch vụ du lịch mới; xây dựng và ban hành các nội dung chủ yếu của Bộ quy tắc ứng xử và sáng tạo nội dung số xã Lâm Bình làm cẩm nang giúp nhân dân, nhà sáng tạo nội dung số biết rõ việc nên làm, không nên làm trong quá trình sáng tạo nội dung số gắn với du lịch tại địa phương.
Cùng với Đề án thí điểm xây dựng Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch, xã Lâm Bình ra mắt sản phẩm du lịch trải nghiệm “Một ngày làm YouTuber”. Đây là sản phẩm du lịch cho phép du khách trực tiếp tham gia trải nghiệm đời sống tộc người; tự quay, dựng và sáng tạo nội dung; ghi lại hành trình của mình và lan tỏa hình ảnh trên các nền tảng số, vừa góp phần quảng bá du lịch địa phương, vừa mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân trong thời đại số. Về bản chất, đây là sự chuyển dịch từ “du lịch tiêu dùng cảnh quan” sang “du lịch tương tác số”.
Mục đích mà Đảng ủy, chính quyền xã Lâm Bình gửi vào Đề án là hình thành mô hình Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch tại xã có cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành rõ ràng, cụ thể, phù hợp với địa phương. Tạo ra các sản phẩm, dịch vụ kinh tế số đặc trưng gắn với du lịch, có khả năng thương mại, dịch vụ. Nâng cao nguồn nhân lực và năng lực số, với tư duy kinh tế thị trường cho người dân nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, con người, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái đặc trưng nhằm giải quyết việc làm và thu nhập ngay tại quê hương cho người dân.
Xã Lâm Bình công bố “Làng Sáng tạo nội dung số Lâm Bình”2. Chuyển đổi số thúc đấy chuyển dịch cấu trúc sinh kế, cấu trúc lao động ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Xưa nay, cấu trúc sinh kế ở vùng đồng bào DTTS&MN chủ yếu dựa trên ba trụ cột: sản xuất nông lâm nghiệp quy mô hộ gia đình, khai thác tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ thông di cư (tức là lao động rời quê hương tới các đô thị, khu công nghiệp hoặc địa phương khác làm các công việc không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, rồi gửi một phần tiền lương về cho gia đình). Mô hình sinh kế này giúp duy trì đời sống cộng đồng truyền thống nhưng thường phân tán, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, năng suất thấp, khả năng kết nối thị trường hạn chế. Trong nhiều trường hợp, người dân chỉ tham gia ở khâu sản xuất nguyên liệu thô, còn phần lớn giá trị gia tăng thuộc về thương lái hoặc các khâu trung gian. Chính vì vậy, ở không ít địa phương, nhiều thanh niên phải rời quê hương để tìm việc làm tại các đô thị, khu công nghiệp với mức thu nhập không cao, khả năng tích lũy yếu và khó tham gia chuỗi giá trị hiện đại…
Qua thực tiễn ở xã Lâm Bình cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của Internet, công nghệ số và các nền tảng mạng xã hội có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc đến cấu trúc sinh kế, cấu trúc lao động ở vùng DTTS&MN. Trong phương thức sinh kế truyền thống của người DTTS, đất đai là tư liệu sản xuất trung tâm, lao động chân tay là nguồn lực chủ yếu, chợ truyền thống là không gian trao đổi. Nhưng trong thời đại số, khả năng sử dụng công nghệ, kỹ năng truyền thông số, năng lực kết nối cộng đồng, khả năng kể chuyện văn hóa mới là nguồn lực cho sinh kế. Một video về chợ phiên vùng cao, một clip hướng dẫn làm món ăn truyền thống hay một buổi livestream giới thiệu sản phẩm cũng có thể thu hút hàng nghìn lượt xem, tạo ra thu nhập, lôi cuốn khách du lịch và mở rộng thị trường tiêu thụ cho cộng đồng. Từ đó, cấu trúc sinh kế ở vùng DTTS&MN có thể chuyển dịch từ mô hình thuần nông sang mô hình sinh kế đa dạng. Nhiều hộ gia đình hiện nay không chỉ làm nông nghiệp mà còn làm du lịch cộng đồng, kinh doanh trực tuyến, sáng tạo nội dung số hoặc quảng bá văn hóa trên mạng xã hội. Sự kết hợp giữa nông nghiệp, dịch vụ và kinh tế số đang hình thành những dạng “sinh kế lai”, trong đó người dân vừa duy trì các hoạt động kinh tế truyền thống, vừa tham gia vào các chuỗi giá trị mới của nền kinh tế số. Đây là một thay đổi quan trọng bởi nó giúp cộng đồng dân cư giảm phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất, nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường và môi trường sống.
Chuyển đổi số cũng làm thay đổi vị trí của người dân trong chuỗi giá trị. Họ không còn chỉ là người sản xuất nguyên liệu thô, mà trở thành người kể chuyện văn hóa, người quảng bá tiềm năng, thế mạnh của địa phương, người bán hàng trực tiếp trên nền tảng số, người tham gia trực tiếp vào kinh tế sáng tạo. Với sự nhanh nhạy về công nghệ và đón bắt xu hướng, thanh niên DTTS không cần phải rời quê tìm việc làm mà có thể kiếm sống ngay tại quê hương, thậm chí trở thành lực lượng trung gian hỗ trợ cộng đồng tiếp cận kinh tế số, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sinh kế ở địa phương.
Chuyển đổi số còn tạo ra khả năng kết nối trực tiếp với thị trường rộng lớn trong và ngoài nước mà trước đây cách thức bán hàng truyền thống rất khó thực hiện. Thông qua các nền tảng mạng xã hội, các sàn thương mại điện tử, người dân vùng DTTS&MN có thể trực tiếp quảng bá sản phẩm, bán hàng mà không phụ thuộc vào các khâu trung gian truyền thống.
Chuyển đổi số đang từng bước làm biến đổi cấu trúc lao động cộng đồng truyền thống. Hàng trăm, hàng nghìn năm qua, không gian lao động ở vùng DTTS&MN thường bó hẹp trong phạm vi bản làng, nương đồi hoặc các hoạt động khai thác tài nguyên tự nhiên. Với sự phổ biến của Internet, điện thoại thông minh và các nền tảng số, cấu trúc lao động cộng đồng DTTS&MN đang xuất hiện các dạng lao động mới gắn với công nghệ số, truyền thông số và kinh tế số. Quá trình lao động vì thế đã mở rộng sang không gian mạng - nơi người dân có thể trực tiếp kết nối với khách hàng, du khách và thị trường quốc gia, quốc tế.
Chuyển đổi số đang làm thay đổi bản chất của giá trị lao động ở vùng DTTS&MN. Nếu trước đây, giá trị chủ yếu được tạo ra từ sản phẩm hữu hình như nông sản, lâm sản, hàng thủ công, thì hiện nay, giá trị còn được tạo ra từ thông tin, hình ảnh, nội dung số và khả năng kể chuyện văn hóa. Một video về đời sống bản làng, một buổi livestream giới thiệu đặc sản địa phương hay một clip trải nghiệm văn hóa dân tộc có thể trở thành sản phẩm tạo thu nhập cho người sáng tạo nội dung số. Điều này cho thấy lao động cộng đồng đang dịch chuyển từ mô hình sản xuất vật chất đơn thuần sang mô hình kết hợp giữa lao động sản xuất, lao động dịch vụ và lao động sáng tạo nội dung.
Có thể thấy, chuyển đổi số đang góp phần tái cấu trúc sinh kế, lao động ở vùng DTTS&MN. Sâu xa hơn đó là sự thay đổi về cách người dân tham gia thị trường, tạo ra giá trị và định vị bản thân trong nền kinh tế hiện đại. Trong dài hạn, quá trình này có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và mở rộng cơ hội phát triển cho cộng đồng DTTS trong bối cảnh kinh tế số ngày càng phát triển mạnh mẽ.
3. Kết luận
Hiện nay, 84,7% người DTTS sống ở nông thôn và tỷ trọng người DTTS làm việc trong khu vực nông lâm, thủy sản là 63,5%, cao hơn nhiều so với tỷ trọng này của lao động có việc làm cả nước. Hai con số này có nghĩa là yêu cầu chuyển dịch việc làm, thu nhập của lao động DTTS sang các khu vực khác đặt ra rất cấp bách, hoặc phải giúp họ gia tăng mạnh mẽ thu nhập từ hoạt động sản xuất truyền thống. Với sự phát triển bùng nổ của Internet, mạng không dây 3G, 4G, 5G dẫn đến sự phổ biến của điện thoại thông minh tại các bản làng vùng sâu, vùng xa, khả năng thực hiện được yêu cầu này là hoàn toàn có thể, nhất là khi tỷ lệ hộ DTTS có điện thoại di động, cố định, máy tính bảng đạt tới 95,1%, trong đó phần đóng góp nhiều nhất từ điện thoại di động đã đưa công cụ này trở thành “cửa ngõ số” giúp đồng bào tiếp cận mạng xã hội, thương mại điện tử, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng kinh tế số để có thể phát triển và sinh tồn.
Vùng DTTS&MN hiện có 1.494 xã, 30.591 thôn (trong đó có 12.368 thôn đặc biệt khó khăn). Mỗi xã, thôn sở hữu những tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng các DTTS, tương tự như những tài nguyên của xã Lâm Bình đang có. Thực tế là ở các xã vùng DTTS&MN đã có rất nhiều người DTTS khai thác mạng xã hội trở thành sinh kế. Vấn đề là chính quyền cần kiến tạo, dẫn dắt họ từ tự phát sang hoạt động bài bản, có tổ chức như cách làm của xã Lâm Bình. Trong kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã đặt mục tiêu 50% (giai đoạn 2025-2027) và 80% (giai đoạn 2028-2030) doanh nghiệp, hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình đồng bào DTTS được đào tạo, tập huấn, hướng dẫn, hỗ trợ tiếp cận thông tin về công nghệ số, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất kinh doanh; phổ cập dịch vụ viễn thông, internet cho đồng bào DTTS tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa… Sự chủ động của cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền cơ sở sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số trở thành động lực phát triển đột phá ở vùng DTTS&MN.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026), Kế hoạch số 447/KHBDTTG ngày 13/02/2026 về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
2. Cục Thống kê - Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế-xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Nxb. Tài chính-Kinh tế, 2025.
3. Ủy ban nhân dân xã Lâm Bình, Đề án số 01/ĐA-UBND ngày 9/4/2026 Thí điểm xây dựng Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch xã Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2026-2030
4. Vũ Tuấn (2026), Xã miền núi thu 46 tỉ từYouTube, TikTok, Facebook, https://tuoitre.vn/xa-mien-nui-thu-46-ti-tu-youtube-tiktok-facebook-20260502111154766.htm