Xây dựng hệ sinh thái số phục vụ phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi là yêu cầu khách quan trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia hiện nay1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của thế giới và là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng quản trị xã hội và phát triển bền vững. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định chuyển đổi số là giải pháp chiến lược nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, đặc biệt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN).
Hiện nay, vùng đồng bào DTTS&MN chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, là nơi sinh sống của hơn 14 triệu người thuộc 53 dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 14,3% dân số của cả nước). Mặc dù, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, song khu vực này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, như: hạ tầng chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ công.
Thực tiễn cho thấy nhiều địa phương, như: Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Đắk Lắk, Nghệ An,… đã bước đầu ứng dụng nền tảng số trong quản lý nhà nước, quảng bá sản phẩm OCOP, phát triển du lịch cộng đồng và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, hệ sinh thái số ở vùng đồng bào DTTS&MN vẫn còn phân tán, thiếu liên kết dữ liệu và chưa phát huy hết tiềm năng của công nghệ số.
Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu xây dựng hệ sinh thái số phục vụ phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò của hệ sinh thái số đối với phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Hệ sinh thái số có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN. Không chỉ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng, hệ sinh thái số còn tạo điều kiện để tiếp cận tri thức, dịch vụ công và các cơ hội phát triển kinh tế số.
Hệ sinh thái số góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số và nâng cao sinh kế cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN. Thông qua các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội và hệ thống thanh toán số, nhiều sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP, hàng thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đã được tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Tại nhiều địa phương như Sơn La, Lào Cai, Bắc Kạn hay Đắk Lắk,… hàng nghìn sản phẩm đặc sản địa phương đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử, góp phần gia tăng giá trị sản phẩm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Bên cạnh đó, hệ sinh thái số đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục và y tế vùng miền núi. Các nền tảng học tập trực tuyến, thư viện số và hệ thống đào tạo từ xa giúp học sinh, sinh viên vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội tiếp cận tri thức hiện đại. Đồng thời, việc ứng dụng khám chữa bệnh từ xa, hồ sơ sức khỏe điện tử và tư vấn y tế trực tuyến đã góp phần cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân ở những khu vực còn nhiều khó khăn về giao thông và cơ sở vật chất.
Đặc biệt, một vai trò quan trọng khác của hệ sinh thái số là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số. Thông qua hoạt động số hóa di sản, xây dựng thư viện số, bảo tàng số và cơ sở dữ liệu văn hóa, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang được lưu giữ và lan tỏa rộng rãi. Các lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian, ngôn ngữ dân tộc thiểu số và tri thức địa phương được số hóa không chỉ phục vụ công tác bảo tồn mà còn tạo nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch văn hóa và giáo dục cộng đồng.
Ngoài ra, hệ sinh thái số còn góp phần nâng cao hiệu quả quản trị xã hội và chất lượng cung cấp dịch vụ công. Việc triển khai chính quyền số, cơ sở dữ liệu dân cư và các nền tảng dịch vụ công trực tuyến giúp giảm chi phí hành chính, tăng tính minh bạch và nâng cao khả năng tiếp cận chính sách của người dân vùng đồng bào DTTS&MN. Đây là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm và xây dựng xã hội số.
Do vậy, từ việc phát triển bền vững, hệ sinh thái số không chỉ là hạ tầng công nghệ mà còn là nền tảng kết nối giữa kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và quản trị xã hội. Việc xây dựng hệ sinh thái số toàn diện sẽ góp phần phát huy nguồn lực nội sinh, nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng dân tộc thiểu số và tạo động lực mới cho phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN trong thời kỳ chuyển đổi số hiện nay.
2.2. Thực trạng xây dựng hệ sinh thái số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Trong những năm gần đây, dưới tác động của Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ 2021-2025 (gọi tắt là Chương trình 1719), quá trình xây dựng hệ sinh thái số tại khu vực miền núi đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Hạ tầng viễn thông, dịch vụ số, cơ sở dữ liệu số và các nền tảng công nghệ từng bước được mở rộng, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Hạ tầng số tại vùng đồng bào DTTS&MN đã phát triển đáng kể. Các dịch vụ viễn thông cơ bản trở thành nhu cầu thiết yếu, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tiểu dự án “Giảm nghèo thông tin” (thuộc Dự án 6) xác định việc mở rộng tiếp cận thông tin là nhiệm vụ then chốt (Nguyễn Thịnh, 2025). Theo đó, đến năm 2024, phần lớn các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được phủ sóng mạng di động 4G; nhiều địa phương, như: Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Đắk Lắk và Nghệ An,… đã triển khai các mô hình chuyển đổi số cấp xã, tạo điều kiện để người dân tiếp cận internet và các dịch vụ số. Hệ thống cáp quang tiếp tục được mở rộng tới các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa miền núi và đồng bằng.
Bên cạnh đó, việc xây dựng chính quyền số và cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều địa phương miền núi đã triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư, hồ sơ điện tử và các nền tảng quản lý hành chính hiện đại. Người dân có thể thực hiện một số thủ tục hành chính thông qua môi trường mạng, giảm đáng kể thời gian và chi phí đi lại. Đây là bước tiến quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản trị và khả năng tiếp cận chính sách của đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong lĩnh vực kinh tế số, nhiều mô hình ứng dụng công nghệ số đã bước đầu phát huy hiệu quả. Các sản phẩm OCOP, nông sản đặc trưng và hàng thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số được đưa lên các sàn thương mại điện tử, như: Postmart, Voso, Shopee và TikTok Shop. Tại các tỉnh như Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Lào Cai, Phú Thọ… hàng nghìn sản phẩm nông nghiệp địa phương đã được giới thiệu trên nền tảng số, giúp mở rộng thị trường tiêu thụ và gia tăng giá trị sản phẩm. Một số hợp tác xã của đồng bào dân tộc thiểu số đã tiếp cận hình thức bán hàng trực tuyến, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển sinh kế bền vững.
Lĩnh vực du lịch số cũng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Các địa phương, như: Sa Pa, Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai), Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang), Mộc Châu (tỉnh Sơn La) và Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk),… đã đẩy mạnh quảng bá du lịch trên nền tảng số, xây dựng bản đồ du lịch điện tử, ứng dụng mã QR và phát triển các sản phẩm truyền thông số. Những hình ảnh về ruộng bậc thang, chợ phiên vùng cao, lễ hội truyền thống và không gian văn hóa dân tộc được lan tỏa mạnh mẽ trên các nền tảng mạng xã hội, góp phần nâng cao nhận diện điểm đến và thu hút khách du lịch.
Trong lĩnh vực văn hóa, nhiều địa phương đã triển khai số hóa di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Một số dự án xây dựng cơ sở dữ liệu số về lễ hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, tri thức địa phương và tiếng nói dân tộc thiểu số đang được triển khai tại Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Đây là bước đi quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường số.
Tuy nhiên, thực trạng xây dựng hệ sinh thái số vùng đồng bào DTTS&MN vẫn còn gặp một số khó khăn, hạn chế, như: (i) Khoảng cách số giữa các vùng miền còn khá lớn; chất lượng hạ tầng viễn thông ở một số khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa chưa ổn định. (ii) Tỷ lệ người dân có kỹ năng số còn thấp; nhiều hộ gia đình chưa có điều kiện tiếp cận thiết bị thông minh và dịch vụ internet chất lượng cao. (iii) Cơ sở dữ liệu số còn phân tán, thiếu liên thông; nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại cơ sở còn thiếu và yếu.
Có thể nói, hệ sinh thái số ở vùng đồng bào DTTS&MN đã bước đầu hình thành và tạo ra những tác động tích cực đối với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quản trị địa phương. Tuy nhiên, để hệ sinh thái số thực sự trở thành động lực của phát triển bền vững, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ về hạ tầng, dữ liệu, nền tảng công nghệ và nâng cao năng lực số cho cộng đồng trong giai đoạn tới.
2.3. Giải pháp
Để xây dựng hệ sinh thái số phục vụ phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia hiện nay, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hạ tầng, dữ liệu, nguồn nhân lực và thể chế theo hướng phát triển bao trùm, lấy người dân làm trung tâm phát triển của quá trình chuyển đổi số.
Một là, cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng số tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới, bảo đảm khả năng tiếp cận internet băng rộng, mạng di động tốc độ cao và các dịch vụ số cơ bản cho mọi người dân. Đây là điều kiện tiên quyết để thu hẹp khoảng cách số và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số, xã hội số và chính quyền số.
Hai là, cần xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về dân cư, văn hóa, giáo dục, y tế, sinh kế và tài nguyên vùng đồng bào DTTS&MN. Việc hình thành hệ thống dữ liệu số liên thông sẽ hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và phát triển các dịch vụ số phục vụ cộng đồng.
Ba là, nâng cao năng lực số cho người dân và cán bộ cơ sở. Cần đẩy mạnh các chương trình đào tạo kỹ năng số, thương mại điện tử, an toàn thông tin và ứng dụng công nghệ mới cho thanh niên, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, khuyến khích phát triển đội ngũ “công dân số” và “tổ công nghệ số cộng đồng” tại cơ sở.
Bốn là, cần thúc đẩy phát triển kinh tế số gắn với lợi thế địa phương thông qua thương mại điện tử, du lịch số, nông nghiệp số và quảng bá sản phẩm OCOP trên các nền tảng số. Song song với đó là đẩy mạnh số hóa di sản văn hóa, tri thức bản địa và ngôn ngữ dân tộc thiểu số nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường số.
Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần hình thành hệ sinh thái số toàn diện, phát huy nguồn lực nội sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo động lực mới cho phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN trong giai đoạn hiện nay.
Đồng bào người dân tộc Dao sử dụng điện thoại thông minh truy cập Internet băng thông rộng không dây 4G ngay tại trung tâm xóm3. Thảo luận
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, xây dựng hệ sinh thái số động lực thúc đẩy phát triển bền vững vùng DTTS&MN. Khác với các giai đoạn phát triển trước đây chủ yếu dựa vào đầu tư hạ tầng vật chất, hệ sinh thái số tạo ra cơ hội tiếp cận tri thức, thị trường, dịch vụ công theo phương thức mới, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng.
Thực tiễn tại nhiều địa phương như Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Phú Thọ, Thái Nguyên, Đắk Lắk hay Nghệ An,… cho thấy việc ứng dụng nền tảng số tại nhiều địa phương miền núi thời gian qua, trong quản lý, thương mại điện tử, du lịch và giáo dục đã mang lại những kết quả tích cực.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hệ sinh thái số ở vùng đồng bào DTTS&MN hiện nay vẫn đang trong quá trình hình thành và phát triển. Những hạn chế về hạ tầng số, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận công nghệ và sự thiếu đồng bộ của cơ sở dữ liệu đang ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển đổi số tại địa phương. Bên cạnh đó, nguy cơ bất bình đẳng số, mất an toàn dữ liệu và mai một các giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường số cũng là những vấn đề cần được quan tâm.
Nếu xét ở góc độ khoa học, phát triển bền vững, có thể thấy hệ sinh thái số chỉ phát huy hiệu quả khi được xây dựng trên nền tảng phát triển bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận và hưởng lợi từ thành quả của chuyển đổi số. Đồng thời, quá trình số hóa cần gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy tri thức địa phương và nâng cao vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển.
Do đó, xây dựng hệ sinh thái số cho vùng đồng bào DTTS&MN không chỉ là nhiệm vụ công nghệ mà còn là chiến lược phát triển xã hội toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế số, bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong thời kỳ mới.
4. Kết luận
Xây dựng hệ sinh thái số phục vụ phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN là yêu cầu khách quan trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia hiện nay. Hệ sinh thái số không chỉ tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và chính quyền số mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, bảo tồn văn hóa và cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tiễn cho thấy nhiều địa phương đã bước đầu hình thành các nền tảng số phục vụ quản lý, sản xuất, kinh doanh và quảng bá văn hóa, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, những hạn chế về hạ tầng số, nguồn nhân lực số và khoảng cách số vẫn là những thách thức lớn. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hạ tầng, dữ liệu, thể chế và nâng cao năng lực số cho cộng đồng nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực số, thúc đẩy phát triển bao trùm và thực hiện mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển đất nước.
* Phó Chủ tịch Hội Hỗ trợ Kinh tế miền núi Việt Nam
**Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần Thứ tư, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Nguyễn Duy Dũng (2026), Vai trò của truyền thông số trong bảo tồn văn hoá các dân tộc thiểu số, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, số 5 (8), tháng 5/2026.
4. Quốc hội (2020), Nghị quyết số 120/2020/QH14 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.
5. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/ QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.
6. Nguyễn Thịnh (2025), Phát triển dịch vụ viễn thông: Thu hẹp khoảng cách thông tin giữa miền núi và đô thị, https://danviet.vn/phat-trien-dich-vuvien-thong-thu-hep-khoang-cach-thong-tin-giuamien-nui-va-do-thi-d1364895.html
7. Hạnh Tâm (2026),Chuyển đổi số cho đồng bào miền núi: Cơ hội bứt phá và thách thức,https://vjst.vn/chuyen-doi-so-cho-dong-bao-mien-nui-co-hoibut-pha-va-thach-thuc-77793.html