Chợ phiên OCOP trên nền tảng TiktokTừ khóa: OCOP; Thương mại điện tử; Dân tộc thiểu số; Chuyển đổi số; Kinh tế số; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Phát triển bền vững.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, thương mại điện tử đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế số, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm địa phương. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi còn nhiều khó khăn về điều kiện hạ tầng, khoảng cách địa lý và khả năng tiếp cận thị trường, việc ứng dụng thương mại điện tử được xem là giải pháp hiệu quả nhằm khai thác tiềm năng kinh tế địa phương, nâng cao giá trị sản phẩm và tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Theo đó, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế nông thôn, góp phần khơi dậy lợi thế về tài nguyên, văn hóa và tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số. Nhiều sản phẩm OCOP như chè Shan tuyết, mật ong bạc hà, thảo dược, dệt thổ cẩm, cà phê, các sản phẩm chế biến nông sản đặc trưng,… đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn gặp khó khăn trong khâu quảng bá, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu do hạn chế về năng lực số, thông tin thị trường và kênh phân phối hiện đại.
Trong bối cảnh đó, kết nối sản phẩm OCOP với các nền tảng thương mại điện tử không chỉ giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, đồng thời còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi số ở khu vực nông thôn, miền núi; nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế số gắn với phát huy nội lực của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò của kết nối sản phẩm OCOP trên nền tảng thương mại điện tử
Không chỉ hỗ trợ tiêu thụ, thương mại điện tử còn góp phần tái cấu trúc phương thức sản xuất, kinh doanh đặc trưng vùng cao tiếp cận thị trường hiệu quả.
(1) Thương mại điện tử giúp mở rộng đáng kể phạm vi tiếp cận thị trường cho các sản phẩm OCOP. Nếu như trước đây sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ tại địa phương hoặc thông qua các kênh phân phối truyền thống, thì nay các nền tảng số cho phép kết nối trực tiếp giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trên phạm vi toàn quốc. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các sản phẩm đặc sản vùng cao như chè Shan tuyết, mật ong bạc hà, thảo dược, thổ cẩm hay các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ,… của đồng bào dân tộc thiểu số.
(2) Việc tham gia các sàn thương mại điện tử góp phần nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm OCOP. Thông qua các công cụ quảng bá số, truy xuất nguồn gốc, đánh giá chất lượng và xây dựng thương hiệu trực tuyến, sản phẩm không chỉ được bán như một loại hàng hóa thông thường mà còn được gắn với câu chuyện văn hóa, tri thức địa phương và bản sắc cộng đồng. Đây là yếu tố tạo nên sự khác biệt và gia tăng giá trị thương hiệu cho sản phẩm.
(3) Kết nối thương mại điện tử thúc đẩy quá trình chuyển đổi số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý sản xuất, tiếp thị, bán hàng và thanh toán điện tử góp phần nâng cao kỹ năng số của người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương. Đồng thời, quá trình này tạo động lực hình thành hệ sinh thái kinh tế số ở khu vực nông thôn và miền núi.
Bên cạnh lợi ích kinh tế, thương mại điện tử còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Thông qua không gian số, các sản phẩm OCOP trở thành “đại sứ văn hóa”, giới thiệu hình ảnh con người, phong tục tập quán, nghề truyền thống và tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số đến với cộng đồng trong và ngoài nước. Đây là cơ sở quan trọng để gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong thời kỳ chuyển đổi số.
Phụ nữ cao tuổi dân tộc Dao rủ nhau livestream, bán nông sản2.2. Thực trạng kết nối sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên nền tảng thương mại điện tử
Thời gian qua, hoạt động đưa sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi lên các sàn mại điện tử đã đạt được nhiều tích cực.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến nay cả nước đã có hàng chục nghìn sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó nhiều sản phẩm được sản xuất tại các tỉnh, thành có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, như: Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, thành phố Cần Thơ,... Các sản phẩm đặc trưng như chè Shan tuyết, mật ong bạc hà, miến dong, gạo đặc sản, cà phê, dược liệu, thổ cẩm và các sản phẩm chế biến từ nông sản địa phương,.. đã từng bước tham gia các nền tảng thương mại điện tử và tạo được chỗ đứng trên thị trường.
Việc đưa sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử, như: Postmart, Voso, Shopee, Lazada, Tiki và nhiều nền tảng bán hàng trực tuyến khác,… đã góp phần mở rộng phạm vi tiêu thụ vượt ra ngoài không gian địa lý truyền thống. Nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ sản xuất đã tiếp cận được khách hàng trên phạm vi toàn quốc, thậm chí từng bước tham gia thị trường xuất khẩu thông qua các nền tảng số. Một số tỉnh, thành đã xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, mã QR, nhận diện thương hiệu và gian hàng số cho sản phẩm OCOP, qua đó nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và gia tăng giá trị sản phẩm.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình kết nối sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên nền tảng thương mại điện tử vẫn còn nhiều hạn chế, như: (1) Năng lực số của các chủ thể OCOP còn chưa đồng đều. Nhiều hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ ở vùng sâu, vùng xa chưa thành thạo kỹ năng bán hàng trực tuyến, quảng bá sản phẩm trên môi trường số hoặc vận hành các gian hàng thương mại điện tử. Khả năng ứng dụng công nghệ trong quản lý đơn hàng, thanh toán điện tử và chăm sóc khách hàng còn hạn chế. (2) Hệ thống logistics và dịch vụ vận chuyển tại nhiều địa bàn miền núi vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thương mại điện tử. Chi phí vận chuyển cao, thời gian giao hàng kéo dài và khó khăn trong bảo quản sản phẩm là những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm OCOP. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm vẫn chưa được đầu tư bài bản về bao bì, nhãn mác, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chiến lược marketing số.
Có thể khẳng định rằng, việc kết nối sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên nền tảng thương mại điện tử đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế cộng đồng và chuyển đổi số nông thôn. Tuy nhiên, để khai thác đồng bộ, hiệu quả tiềm năng của thương mại điện tử, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, nâng cao năng lực số cho chủ thể OCOP và xây dựng hệ sinh thái thương mại điện tử đồng bộ, phù hợp với điều kiện đặc thù của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
2.3. Định hướng và giải pháp
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số đang trở thành xu thế tất yếu, việc kết nối sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên nền tảng thương mại điện tử cần được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu này, chúng ta cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, tập trung thực hiện một số định hướng và giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển OCOP số. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ chuyển đổi số cho các chủ thể OCOP, ưu tiên các địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa; đồng thời xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp công nghệ, sàn thương mại điện tử tham gia hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm OCOP.
Thứ hai, nâng cao năng lực số cho các chủ thể OCOP. Tăng cường đào tạo kỹ năng thương mại điện tử, marketing số, quản trị gian hàng trực tuyến, thanh toán điện tử và phân tích dữ liệu khách hàng cho các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất. Đây là giải pháp nền tảng nhằm giúp người dân chủ động tham gia vào chuỗi giá trị số.
Thứ ba, chuẩn hóa chất lượng và xây dựng thương hiệu số cho sản phẩm OCOP. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, mã QR, tiêu chuẩn chất lượng và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đồng thời, xây dựng câu chuyện sản phẩm gắn với bản sắc văn hóa dân tộc, tri thức địa phương và giá trị cộng đồng nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường số.
Thứ tư, phát triển hạ tầng logistics và hệ sinh thái thương mại điện tử vùng dân tộc thiểu số. Đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông, kho vận, trung tâm phân phối và dịch vụ chuyển phát nhằm giảm chi phí vận chuyển, nâng cao hiệu quả lưu thông hàng hóa.
Thứ năm, thúc đẩy liên kết giữa 4 nhà “Nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, sàn thương mại điện tử và cộng đồng địa phương”. Hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ bền vững, hỗ trợ kết nối thị trường trong nước và quốc tế cho các sản phẩm OCOP.
Thứ sáu, gắn phát triển thương mại điện tử với bảo tồn văn hóa dân tộc và phát triển bền vững. Việc quảng bá sản phẩm OCOP cần đồng thời giới thiệu giá trị văn hóa, tri thức địa phương và hình ảnh cộng đồng dân tộc thiểu số, qua đó tạo ra giá trị gia tăng kép về kinh tế và văn hóa. Triển khai đồng bộ các định hướng và giải pháp trên sẽ góp phần xây dựng hệ sinh thái OCOP số hiện đại, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy chuyển đổi số nông thôn và phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
3. Thảo luận
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc kết nối sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên nền tảng thương mại điện tử không chỉ là giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế cộng đồng và khai thác hiệu quả các nguồn lực địa phương. Trong bối cảnh kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ, thương mại điện tử đã tạo điều kiện để các sản phẩm đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số vượt qua những rào cản về không gian địa lý, tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc gia.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy rằng hiệu quả kết nối sản phẩm OCOP trên nền tảng số chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế về hạ tầng số, năng lực ứng dụng công nghệ, trình độ quản trị kinh doanh và kỹ năng thương mại điện tử của các chủ thể OCOP. Điều này phản ánh thực tế rằng chuyển đổi số trong khu vực đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình chuyển đổi về tư duy sản xuất, phương thức quản lý và cách thức tiếp cận thị trường.
Đặc biệt là giá trị cạnh tranh của sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm mà còn ở các yếu tố văn hóa, tri thức địa phương và câu chuyện cộng đồng gắn với sản phẩm. Do đó, việc xây dựng thương hiệu số cần được thực hiện theo hướng kết hợp giữa giá trị kinh tế và giá trị văn hóa nhằm tạo ra lợi thế khác biệt trên thị trường thương mại điện tử.
Xét từ góc nhìn khoa học, thương mại điện tử cần được xem là một công cụ hỗ trợ nâng cao thu nhập, giảm nghèo và phát triển sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số. Muốn vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa 4 nhà “Nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, sàn thương mại điện tử và cộng đồng địa phương” trong việc xây dựng hệ sinh thái số đồng bộ. Đây là điều kiện quan trọng để sản phẩm OCOP thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế số và nâng cao vị thế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số quốc gia.
4. Kết luận
Kết nối sản phẩm OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên nền tảng thương mại điện tử là xu hướng tất yếu trong tiến trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số ở Việt Nam hiện nay. Việc ứng dụng thương mại điện tử không chỉ góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm OCOP, đồng thời còn tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế cộng đồng, giảm nghèo bền vững và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, cần giải quyết đồng bộ các vấn đề về hạ tầng số, nguồn nhân lực, logistics, chất lượng sản phẩm và năng lực quản trị số của các chủ thể OCOP. Đây là tiền đề, cơ sở quan trọng để xây dựng hệ sinh thái OCOP số hiện đại, góp phần phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số quốc gia.
*Trường Đại học Dự bị Trung ương Nha Trang
**Viện Kinh tế - xã hội vùng dân tộc
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2023), Sổ tay hướng dẫn Chương trình OCOP, Hà Nội.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2020), Công văn số 6022/BNN-VPĐP ngày 01/09/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc lựa chọn tổ chức, cá nhân tư vấn Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), Hà Nội.
4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình OCOP toàn quốc, Hà Nội.
5. Bộ Công Thương (2024), Báo cáo thường niên thương mại điện tử Việt Nam, Hà Nội.
6. Bộ Khoa học và Công nghệ (2023), Chuyển đổi số trong phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam, Hà Nội.
7. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo số 169/BCBDTTG ngày 30/3/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về Tình hình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 và kiến nghị, giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, Hà Nội.
8. Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.
9. Chính phủ (2018), Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/05/2018 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020, Hà Nội.
10. Chính phủ (2022), Quyết định số 919/QĐ-TTg ngày 01/08/2022 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2021-2025, Hà Nội.
11. Nguyễn Duy Dũng (2026), Ứng dụng khoa học công nghệ góp phần nâng cao giá trị tri thức địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, số 1+2 (5), tháng 1+2/2026.
12. Việt Dũng (2026), Xây dựng thương hiệu nông sản từ những mô hình kinh tế tập thể, https://dantocmiennui. baotintuc.vn/xay-dung-thuong-hieu-nong-san-tu-nhungmo-hinh-kinh-te-tap-the-post365496.html
13. Mộc Nhiên (2026), Mở rộng đầu ra cho sản phẩm OCOP miền núi, https://langngheviet.com.vn/mo-rongdau-ra-cho-san-pham-ocop-mien-nui-36460.html
14. Quốc hội (2019), Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.
15. Quốc hội (2020),Nghị quyết số 120/2020/QH14 về chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc giaphát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn2021-2030, Hà Nội.