Từ khóa: Hội nhập văn hóa Công giáo; Văn hóa Công giáo; Văn hóa dân tộc Việt Nam; Giao thoa văn hóa.
Giáo dân thực hiện các nghi lễ tại nhà thờ giáo họ Hầu, Thào tỉnh Lào Cai1. Đặt vấn đề
Rút kinh nghiệm qua những sóng gió gập ghềnh trong lịch sử truyền giáo, va chạm, mâu thuẫn, xung đột về văn hóa Đông - Tây, về nghi lễ trong cử hành phụng vụ ở các nước, trong đó có Việt Nam ở thời kỳ đầu truyền giáo. Thời gian qua, nhiều thế hệ người Công giáo đã nỗ lực để hội nhập, đưa văn hóa Công giáo gần hơn với văn hóa dân tộc không chỉ trong các sinh hoạt tôn giáo mà còn trong cử hành phụng vụ. Giáo hội ý thức rất rõ chỉ có hội nhập văn hóa mới là con đường để mở rộng địa bàn truyền giáo, tiếp cận với người dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, tránh được khuynh hướng áp đặt, bớt đi tính bảo thủ về lễ nghi, bớt đi sự va chạm văn hóa, tạo nên sự đan xen trong đời sống tôn giáo. Hội nhập văn hóa cũng chính là cách thức để Công giáo phát huy nguồn lực, trách nhiệm trong bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam. Để có những bước đi chắc chắn hơn trong con đường đồng hành cùng dân tộc, Công giáo đã và đang thực hiện những dự án lớn trong việc đẩy mạnh hội nhập văn hóa dân tộc từ phong tục, nghi lễ, lối sống đến kiến trúc, nghệ thuật.
2. Quá trình hội nhập văn hóa của Giáo hội Công giáo với văn hóa dân tộc trước thời kỳ đổi mới chính sách tôn giáo
Công giáo là tôn giáo thờ nhất thần, tính hệ thống và chuẩn mực được coi là một trong những thước đo căn bản trong nền tảng đức tin. Theo quy định của Công đồng Trentô (1554-1563) và Công đồng Vatican (1869-1870) hoạt động của Công giáo ở bất cứ quốc gia nào buộc phải thống nhất trong cử hành nghi lễ, trang phục của hàng giáo sỹ và sử dụng duy nhất ngôn ngữ tiếng Latinh. Các nhà nghiên cứu cho rằng đó là thời kỳ Giáo hội đồng nhất, Giáo hội mà trong đó bản sắc và giá trị văn hóa của các quốc gia, dân tộc bị đồng hóa với một nền văn hóa được coi là của Giáo hội, nhưng thực chất là văn hóa châu Âu. Chính vì vậy mà trong quá trình truyền giáo việc đụng độ, xung đột văn hóa giữa Công giáo và các quốc gia truyền đến là không thể tránh khỏi.
Công giáo truyền vào Việt Nam là truyền đến với một quốc gia có nền văn hóa lâu đời với tín ngưỡng đa thần, nên ngay từ đầu đã vấp phải va chạm, xung đột văn hóa. Với chuẩn mực trong đức tin nhất thần, Công giáo không thừa nhận việc thờ đa thần, trong đó có thờ cúng Tổ tiên vốn dĩ là truyền thống văn hóa của người dân Việt Nam. Với các tôn giáo khác thờ đa thần hay đối tượng thờ phụng không phải là Thiên Chúa cũng bị Công giáo cho là đạo rối. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến Công giáo bước đầu truyền vào Việt Nam đã không được các triều đình phong kiến (vốn coi Nho giáo là tư tưởng chủ đạo trong xã hội) ủng hộ và người dân đón nhận như một số tôn giáo khác. Có thời điểm bị triều đình phong kiến cấm đoán và xem Công giáo là “tả đạo” đạo của người Tây phương. Từ vấn đề khác biệt về văn hóa dẫn đến nhiều hệ lụy về nhận thức, về tư tưởng đi đến cách ứng xử thiếu đi sự tôn trọng lẫn nhau giữa các bên liên quan, thêm vào đó là bị thực dân, đế quốc lợi dụng trong quá trình xâm lược Việt Nam. Lịch sử đó đã ảnh hưởng khá nặng nề trong quá trình phát triển và xây dựng hình ảnh của người Công giáo ở Việt Nam.
Để vượt qua rào cản về văn hóa, tránh mâu thuẫn, xung đột trong Giáo hội Công giáo đã rất nỗ lực để tìm kiếm những cách thức hòa giải, hòa hợp với văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, do yếu tố chủ quan và khách quan nên tinh thần của Công đồng Vatican II và Thư Chung 1980 - một bản văn quan trọng bậc nhất của Hội đồng Giám mục Việt Nam với tựa đề “Xây dựng trong hội thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc” chứa đựng các nội dung cơ bản về đối thoại với văn hóa dân tộc, đối thoại với các tôn giáo bạn và với người nghèo ít được triển khai, chưa thẩm thấu vào sinh hoạt tôn giáo. Cùng với đó tình trạng đất nước liên tục chiến tranh, nhận thức và tạo cơ hội cho Công giáo hội nhập văn hóa dân tộc chưa được nhìn nhận, phát huy nên đến trước thời kỳ đất nước tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986 và đổi mới chính sách tôn giáo năm 1990, những cố gắng hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo mới dừng lại ở việc nhìn nhận giá trị văn hóa và thực hành việc thờ cúng Tổ tiên. Cho phép tín đồ lập bàn thờ gia tiên, tổ chức các hoạt động kính nhớ, sử dụng tiếng Việt trong cử hành thánh lễ. Với các dân tộc thiểu số là tìm hiểu phong tục, tập quán để hạn chế va chạm và đạt mục tiêu trong truyền giáo.
3. Hội nhập văn hóa của Giáo hội Công giáo với văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới
Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có một nền văn hóa, phong tục, ngôn ngữ, truyền thống tín ngưỡng độc đáo riêng, đang và sẽ là mảnh đất rộng mở để Công giáo thực hiện đường hướng hội nhập. Chủ trương hội nhập văn hóa dân tộc trong giai đoạn này đã được giáo hội đặt ra và thực hiện từ rất sớm, tuy nhiên đến Đại hội lần thứ V của Hội đồng Giám mục Việt Nam, việc hội nhập văn hóa dân tộc mới được cụ thể hóa và nhấn mạnh trong Thư Mục vụ: “Đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc không có nghĩa là đơn thuần lấy lại những cái cổ xưa, nhưng là làm sao cho tính cách dân tộc được diễn tả trong lời kinh, tiếng hát, trong cử hành Phụng vụ, trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong suy tư và ngôn ngữ thần học”. Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nước thì vấn đề canh tân trong lĩnh vực văn hóa để tiếp thu và hội nhập làm mới văn hóa Công giáo, gần gũi hơn với văn hóa dân tộc tiếp tục được giáo hội quan tâm. Những năm gần đây, Giáo hội đẩy mạnh hội nhập văn hóa ở những vùng, miền có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là khu vực ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ. Các giáo phận tiếp tục đẩy mạnh việc dịch kinh sách ra tiếng một số dân tộc thiểu số để đồng bào dễ tiếp cận với giáo lý Công giáo và đồng thời cũng để lưu truyền ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc trong bối cảnh ngày càng thất truyền, mai một. Một số giáo xứ, giáo họ có nhiều tín đồ người dân tộc thiểu số đã tổ chức thánh lễ riêng và tổ chức các lớp giáo lý bằng tiếng dân tộc.
Giáo hội tiếp tục định hướng và đào tạo chức sắc, tu sĩ là tín đồ người dân tộc thiểu số để đưa về phục vụ chính đồng bào mình. Hiện nay, chủng sinh người dân tộc, hoặc ở khu vực miền núi đang theo học tại các Đại chủng viện trong 3 tháng hè phải dành 01 tháng để học tiếng dân tộc tại Tòa giám mục. Việc hội nhập văn hóa dân tộc tiếp tục được Giáo hội triển khai bằng các kế hoạch mang tính lâu dài, cụ thể. Tại Đại hội lần thứ XIV năm 2019, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chấp thuận để Giáo hội thử nghiệm 3 năm văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên” của Ủy ban Văn hóa; Phê chuẩn bản dịch tiếng K’ho trong các bài đọc Thánh lễ Chúa nhật, mặc dù từ năm 1966, các giáo phận khu vực tỉnh Tây Nguyên đã dùng ngôn ngữ K’ho trong thánh lễ thay vì dùng ngôn ngữ La tinh. Cuối năm 2020, Học viện Công giáo Việt Nam đã liên kết với Nhà Xuất bản Đồng Nai ấn hành cuốn từ điển Kơ Ho - Việt do Linh mục Đa minh Nguyễn Huy Trọng thực hiện. Cuốn từ điển là sự tiếp nối truyền thống của các thừa sai truyền giáo trước đó, là công cụ quan trọng cho việc truyền giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiếu số. Với xu hướng này thì thời gian tới sẽ có nhiều giáo xứ, họ đạo ở vùng dân tộc thiểu số sử dụng ngôn ngữ dân tộc để thực hiện các thánh lễ cho người dân.
Quá trình hội nhập văn hóa Công giáo tiếp tục chú trọng đến tính kế thừa, phát huy có chọn lọc văn hóa truyền thống của các vùng, miền để hội nhập vào văn hóa Công giáo trong cử hành thánh lễ và sinh hoạt tôn giáo. Ở đó, tín đồ vừa thực hành lễ nghi Công giáo, vừa thực hiện các phong tục tập quán của địa phương nơi họ sinh ra và lớn lên. Sử dụng cồng chiêng, múa hát theo làn điệu dân ca quan họ, dân ca các vùng, miền và các dân tộc thiểu số. Diễn tả các điển tích của Công giáo thông qua văn hóa các địa phương như giáo phận Bắc Ninh đã đưa dân ca quan họ để diễn tả các điển tích trong Kinh thánh. Trong đám rước của Công giáo cũng không khác hội làng là bao, cũng trống, kèn, hội bát âm, cỡ ngũ sắc, đi kheo, múa trống. Các cụ ông cũng khăn xếp áo the, các bà cũng áo dài tứ thân, nón lá, có khác là thêm hội kèn tây. Hội kèn đồng vốn được du nhập từ phương Tây, nhưng đã được Việt hóa đi từ trang phục đến nội dung biểu diễn và được xã hội chấp nhận đến phục vụ các lễ hội, hiếu hỷ. Trong tang ma, tín đồ ngoài việc thực hành các nghi lễ Công giáo vẫn lập bàn thờ, bày di ảnh, thắp hương, đặt hoa quả tưởng nhớ, tôn kính người quá cố. Tại các lễ hỏi, cưới cũng không chỉ dừng ở việc làm lễ tại nhà thờ mà kèm theo đó là phong tục ăn hỏi, ăn cưới với những nghi lễ theo phong tục truyền thống của từng địa phương.
Về âm nhạc, thể hiện xu hướng hội nhập rất rõ. Trước đây, ngôn ngữ trong các bài hát thánh ca dùng trong phụng vụ là tiếng Latinh, thì hiện nay, các nhạc sĩ đã dịch các bài thánh ca ra tiếng Việt, dùng các làn điệu dân ca như Lưu thuỷ hành vân, Nam ai, hát đò để biên soạn lại giúp giáo dân dễ nhớ, dễ thuộc. Một nhạc đoàn chuyên sáng tác thánh nhạc Việt Nam ra đời mang tên Nhạc đoàn Bảo Tịnh với nhiều nhạc sĩ tên tuổi như: Hùng Lân, Tâm Bảo, Nguyễn Khắc Xuyên... đã sáng tác nhiều ca khúc mang đậm tinh thần tôn giáo, dân tộc với phương châm hoạt động: Về nội dung phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, về nghệ thuật lấy dân ca cổ truyền làm cấu trúc âm thanh. Các bài hát thánh ca sẽ tiếp tục được các nghệ sĩ Việt hóa không chỉ trong diễn tả bằng lời văn mà cả trong việc đưa các làn điệu dân ca của mỗi vùng miền đất nước để thể hiện, làm cho câu kinh, bài kệ dễ hấp dẫn người dân và người dân dễ bày tỏ niềm tin của mình với Chúa.
Trong nghệ thuật, không ít nhà thờ Công giáo đang và sẽ được xây dựng mang phong cách Việt Nam, như: nhà thờ Cam Ly ở Đà Lạt mang hình dáng ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc thiểu số; Nhà thờ Cửa Nam tại Lạng Sơn lại mang hình ảnh ngôi nhà dài tám mái của đồng bào vùng cao xứ Lạng; Nhà thờ Bản Lìm xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn được xây dựng bằng mật và đất theo kiểu nhà trình tường của người dân tộc, phần lớn tín đồ nơi đây là dân tộc Nùng, Tày. Nhiều nhà thờ vùng Tây Nguyên được xây dựng theo kiểu nhà Rông truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong khuôn viên các nhà thờ còn có kiến trúc phụ như núi đá nhân tạo, hồ ao, cây xanh như một vũ trụ thu nhỏ theo quan niệm “thiên - địa - nhân nhất thể” của người phương Đông. Các bức chạm khắc trong nhà thờ có đủ đào, cúc, trúc, mai, long, ly, quy, phượng... Nhà thờ - nhà Rông - nhà Dài sẽ trở thành nơi sinh hoạt chung và cũng là nơi để tạo nên sự kết nối giữa văn hóa Công giáo và văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, là nơi lưu giữ và phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp.
Một vấn đề mà Công giáo quan tâm trong quá trình hội nhập văn hóa đấy là bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc, nhất là dân tộc ít người ở khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên. Một số giáo phận đã và đang xây dựng nhà truyền thống để làm nơi tập trung và lưu giữ các hiện vật cổ xưa của đồng bào. Ý tưởng này xuất phát từ niềm đam mê của một số linh mục, tu sĩ truyền giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Họ đã dày công sưu tầm, gom góp, gìn giữ những kỷ vật từ các buôn làng, có những cổ vật rất quý hiếm như: răng voi, bộ đàn đá cổ, cây hoá thạch, các mẫu đá quý, các cổ vật cồng chiêng, bát cổ đựng thức ăn, bình rót rượu, bình đựng bùa ngải, nhiều cổ vật là các loại nhạc cụ như khèn 4 lỗ của người K’ho... Tại nhà truyền thống giáo phận Đà Lạt, rất nhiều hiện vật trưng bày liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng như tượng thần Brahma, Shiva, Pô Naga Thiên Y Ava, Ganesha, tượng khất sĩ bằng đồng, các tượng quỷ thần nhiều kích cỡ, bộ tiền cổ... Việc lưu giữ văn hóa chính là lưu giữ những mảng ký ức để kể cho thế hệ sau những câu chuyện lịch sử, văn hóa các dân tộc thiểu số rất đáng được trân trọng và giữ gìn.
Việc dịch thuật các sách phụng vụ cho người dân tộc thiểu số sẽ được Giáo hội chú trọng hơn; Không chỉ dừng lại ở tiếng K’ho mà còn dịch ra ngôn ngữ của một số dân tộc khác. Hồng y Nguyễn Văn Nhơn khi còn là Giám mục giáo phận Đà Lạt đã nhận định: Các dân tộc đều có nguồn gốc khác nhau, chúng tôi cố gắng để thích ứng với mỗi sắc tộc. Vì thế trong việc biên soạn các sách kinh, bài hát, từ điển, ca dao tục ngữ và nhất là các văn bản phục vụ giáo hội đã dịch sang tiếng K’ho sau khi hoàn thành chuyển sang tiếng Churu và tiếng Lạch. Việc nghiên cứu lịch sử, phong tục, tập quán, văn chương đòi hỏi nhiều nỗ lực và thời gian, nhưng giáo hội đang làm. Hiện nay, các giáo phận ở khu vực Tây Nguyên đã và đang thực hiện việc dịch Thư Chung, Thư Mục vụ để phổ biến nội dung định hướng hoạt động cho tín đồ người dân tộc thiểu số.
Cùng với tiến trình hội nhập văn hóa dân tộc thì việc tận dụng, áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động truyền giáo cũng là xu hướng được giáo hội thúc đẩy. Công giáo là một trong những tôn giáo đã khai thác truyền thông Internet vào truyền giáo một cách sâu rộng và hiệu quả. Hầu hết các giáo phận, giáo xứ và dòng tu đều có trang Web. Giáo hội tận dụng những trang Web như một diễn đàn mới để cập nhật thông tin, truyền tải thông tin, truyền giáo. Mọi người trên thế giới có thể qua máy vi tính đọc được những bài diễn văn của Giáo hoàng, tình hình Giáo hội Công giáo thế giới, biết được thông tin của từng giáo phận, từng dòng tu ở Việt Nam và ngược lại. Việc ứng dụng công nghệ này đã và sẽ tiếp tục áp dụng trên phạm vi rộng, trong đó vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và sẽ kéo ngắn lại khoảng cách của tín đồ, người dân trong việc nhận biết về tôn giáo này.
Có thể nói, hội nhập văn hóa Công giáo với văn hóa dân tộc Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động không chỉ của hàng ngũ chức sắc, tu sỹ mà ngay cả với tín đồ. Trước đây, hội nhập để tránh mâu thuẫn, xung đột văn hóa, tránh bị tẩy chay, bớt đi tính “tôn giáo ngoại lai” để đạt mục đích truyền giáo, phát triển đạo thì ngày nay, hội nhập để phát huy giá trị văn hóa Công giáo trong cộng đồng, gia tăng vai trò, trách nhiệm của giáo hội trước việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc, gia tăng ảnh hưởng của Công giáo trong xã hội. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, việc hội nhập văn hóa không chỉ để truyền giáo, để Công giáo gần hơn với các thành phần trong xã hội mà còn là trách nhiệm của người Công giáo trước việc giữ gìn và phát huy văn hóa các dân tộc.
4. Kết luận
Hội nhập và phát triển văn hóa dân tộc là một xu hướng tích cực của Công giáo Việt Nam, tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm và hành động của giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Làm cho họ tự hào về những giá trị tốt đẹp của Công giáo trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, của quê hương, đất nước, thấy được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là một điểm tương đồng, là “mẫu số” chung để phát huy đoàn kết dân tộc giữa người Công giáo và người không theo Công giáo. Đồng thời hạn chế những mặt khác biệt, mâu thuẫn, xung đột văn hóa, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
*Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (2003), Nghị quyết số 25 - NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo.
2. Thư chung Hội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 1980.
3. Kỷ yếu toạ đàm khoa học “Từ Công đồng Vatican II đến Thư Chung 1980”, NXb Tôn giáo, 2006, tr 288.
4. Thư Mục vụ Hội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 1992.
5. Thư Chung Hội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 1995.
6. Thư Mục vụ Hội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 1998.
7. Thư Chung Hội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 2001.
8. Thư ChungHội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 2004.
9. Thư ChungHội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 2007.
10. Thư Chung Hội đồng Giáo Mục Việt Nam năm 2016.