Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Làm sao để người dân ở Đồng Văn có nước sạch?

Nguyễn Duy Dũng - 17:55, 03/07/2026

(DTTG) - Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang), Công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận vào năm 2010. Có một điều rất đặc biệt ở đây là: dưới lòng núi đá là nguồn nước dồi dào, nhưng bên trên, hàng vạn đồng bào các dân tộc như Mông, Dao, Tày, Nùng, Giáy, Lô Lô, Pu Péo, La Chí, Pà Thẻn, Hoa, Bố Y, Cao Lan, Phù Lá, Sán Dìu, Cờ Lao… vẫn phải sống trong cảnh khan hiếm nước sạch. Từ câu hỏi tưởng chừng giản dị: “Làm sao để người dân có nước?”, các nhà khoa học Việt Nam và Đức đã bắt đầu hành trình gần 10 năm tìm lời giải cho bài toán nước sạch, mở ra một hướng tiếp cận mới về khai thác tài nguyên, phát triển bền vững ở vùng cực Bắc Tổ quốc...

Khởi nguồn từ vùng đất Vân Nam (Trung Quốc), sông Nho Quế lặng lẽ men theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, băng qua địa phận cao nguyên đá Đồng Văn và Mèo Vạc của tỉnh Tuyên Quang, rồi hoà mình vào sông Gâm tại tỉnh Cao Bằng
Khởi nguồn từ vùng đất Vân Nam (Trung Quốc), sông Nho Quế lặng lẽ men theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, băng qua địa phận cao nguyên đá Đồng Văn và Mèo Vạc của tỉnh Tuyên Quang, rồi hoà mình vào sông Gâm tại tỉnh Cao Bằng

Ông Vàng Mí Già, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang chia sẻ: Cao nguyên đá Đồng Văn mang trong mình một sự đặc biệt lớn. Chính vì sự đặc biệt ấy từng trở thành rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang. Bởi với vùng đất mà đá chiếm gần như toàn bộ bề mặt, nước không chỉ là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đồng thời còn là chìa khóa quyết định tương lai của cả một vùng di sản văn hoá. Không có nước, đồng bào không thể mở rộng sản xuất; du lịch khó phát triển bền vững hơn; chất lượng cuộc sống, y tế, giáo dục và sinh kế đều bị ảnh hưởng… Chính từ thực tế ấy, hơn một thập kỷ trước, một câu hỏi tưởng như rất giản dị nhưng lại chứa đựng khát vọng lớn đã được đặt ra: “Làm sao để người dân có nước sạch?”.

Đó không chỉ là câu hỏi của chính quyền địa phương hay của những người dân quanh năm gùi từng can nước vượt núi đá. Đó còn là nỗi trăn trở của những nhà khoa học nhiều năm gắn bó với vùng cao nguyên đá, những người hiểu rằng muốn phát triển bền vững thì trước hết phải giải quyết được bài toán nước sạch.

Nhìn trên bản đồ, Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở cực Bắc Tổ quốc, nơi địa hình chủ yếu là núi đá vôi với độ cao trung bình từ 1.000 đến hơn 1.600 mét so với mực nước biển. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi tai mèo dựng đứng, những khe vực sâu và hệ thống karst điển hình. Mùa mưa, nước nhanh chóng thấm qua các khe nứt đá vôi rồi chảy xuống các tầng chứa nước ngầm; mùa khô, trên mặt đất gần như không còn nguồn nước tự nhiên. Chính đặc điểm địa chất đặc biệt ấy khiến Đồng Văn trở thành một trong những khu vực khan hiếm nước sinh hoạt nghiêm trọng nhất cả nước.

Có thời điểm, nhiều hộ dân phải thức dậy từ ba, bốn giờ sáng, đi bộ hàng chục cây số để lấy từng can nước từ các khe đá hoặc các hốc nước tự nhiên. Những chiếc gùi trên lưng người phụ nữ Mông không chỉ chở ngô, củi,… đặc biệt còn oằn nặng bởi những can nước quý giá được đổi bằng hàng giờ băng núi. Nước được chắt chiu đến từng gáo nhỏ; ưu tiên trước hết dành cho ăn uống, sau đó mới đến vệ sinh, chăn nuôi và tưới cây. Việc thiếu nước trở thành nỗi ám ảnh và khó khăn kéo dài qua nhiều thế hệ.

Có thể nói, ý tưởng về công trình cấp nước đặc biệt của Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang không xuất phát từ nghiên cứu cấp nước mà từ những chuyến khảo sát địa chất bắt đầu từ năm 2002. Khi ấy, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đến khảo sát hệ thống hang động, nghiên cứu cấu trúc địa chất nhằm phục vụ công tác bảo tồn. Nhưng càng đi sâu vào các bản làng của vùng cao nguyên đá Đồng Văn,  họ càng nhận thấy một thực tế khiến bất cứ ai cũng day dứt.

Đặc biệt, cảnh quan nơi đây đẹp đến kỳ lạ, có thể trở thành điểm đến hàng đầu của du lịch Việt Nam, nhưng cuộc sống của người dân lại quá khó khăn. Nguyên nhân lớn nhất chính là thiếu nước.

Trong sự tĩnh lặng của núi đá, cỏ cây,… càng tô vẽ thêm sự mênh mang, yên bình cho đất trời Tuyên Quang
Dưới lòng những dãy núi đá vôi ở Đồng Văn đang tích trữ một lượng nước ngầm rất lớn

Và những chuyến khảo sát liên tiếp đã giúp các nhà khoa học, nhà nghiên cứu nhận ra một nghịch lý tưởng chừng vô lý: Đồng Văn không hề thiếu nước. Dưới lòng các khối núi đá vôi là hệ thống nước ngầm rất lớn, được tích tụ qua hàng triệu năm. Tuy nhiên, tầng chứa nước chính lại nằm ở độ cao khoảng 250-300 mét, trong khi phần lớn khu dân cư sinh sống ở độ cao từ 1.100 đến 1.200 mét. Nghĩa là giữa nơi có nước và nơi cần nước tồn tại khoảng cách chênh cao gần 700 mét.

Khoảng cách ấy khiến mọi giải pháp cấp nước truyền thống đều trở nên vô cùng tốn kém. Nếu sử dụng bơm điện để đưa nước lên cao, chi phí vận hành có thể lên tới 18.000-20.000 đồng cho mỗi mét khối nước. Với điều kiện kinh tế của người dân vùng cao, miền núi và ngân sách địa phương, đây là phương án gần như không khả thi.

Trong nhiều năm, Nhà nước đã đầu tư nhiều mô hình nhằm giải quyết tình trạng thiếu nước, như: xây dựng hồ treo, bể chứa nước mưa, dẫn nước từ các mó nước tự nhiên, xây dựng hệ thống bể cấp nước tập trung hay hỗ trợ các hộ gia đình trữ nước mưa. Những giải pháp ấy đã góp phần cải thiện phần nào đời sống của người dân, song đều bộc lộ những hạn chế khi đối mặt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của vùng núi đá nơi địa đầu Tổ quốc.

Hồ treo phụ thuộc hoàn toàn vào lượng mưa, nhưng cơ bản đã giải quyết được những bức thiết đặt ra, việc tích nước vào mùa khô hạn đã phần nào được tháo gỡ và đạt hiệu quả. Các bể chứa hộ gia đình chỉ đáp ứng được nhu cầu trong thời gian ngắn và đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn. Đặc biệt, biến đổi khí hậu với những đợt hạn kéo dài càng khiến bài toán nước sạch ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn trở nên cấp bách hơn.

Trong khi đó, một bước ngoặt khác đang mở ra đối với Đồng Văn. Năm 2007, ý tưởng xây dựng Công viên địa chất toàn cầu được hình thành và đến năm 2010, UNESCO chính thức công nhận Cao nguyên đá Đồng Văn là Công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam. Danh hiệu này nhanh chóng đưa Đồng Văn trở thành điểm đến nổi tiếng trên bản đồ du lịch thế giới. Lượng du khách tăng nhanh qua từng năm, các mô hình du lịch cộng đồng, homestay, dịch vụ lưu trú phát triển mạnh.

Nhưng sự phát triển ấy cũng đặt ra yêu cầu mới. Một vùng du lịch không thể phát triển bền vững, nếu người dân vẫn thiếu nước sinh hoạt. Không có nước sạch, mọi nỗ lực phát triển kinh tế, nâng cao đời sống hay khai thác giá trị di sản văn hoá đều khó có thể đi đến thành công lâu dài.

Theo lời kể của ông Hồ Tiến Chung, lúc đó là Điều phối viên Dự án nghiên cứu triển khai công nghệ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước ở các vùng núi đá vôi Việt Nam, trong một cuộc trao đổi với lãnh đạo tỉnh Hà Giang khi ấy (nay là tỉnh Tuyên Quang), sau khi nghe những trăn trở về tương lai của Đồng Văn, PGS.TS. Trần Tân Văn, lúc đó là Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, chỉ nói một câu rất ngắn gọn nhưng đầy quyết tâm, trách nhiệm: “Thế thì đi kiếm nước”.

Câu nói ấy không đơn thuần là một ý tưởng nghiên cứu. Đó là khởi đầu của hành trình kéo dài gần mười năm, quy tụ các nhà khoa học, nhà nghiên cứu Việt Nam và Đức cùng chung tay tìm lời giải cho bài toán tưởng như không có đáp án: làm thế nào để đưa nguồn nước từ dưới sâu hàng trăm mét “leo” lên đỉnh núi đá, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả kinh tế, tính bền vững và khả năng vận hành phù hợp với điều kiện địa phương.

Nhìn lại chặng đường ấy hôm nay mới thấy, điều làm nên giá trị lớn nhất của công trình không chỉ nằm ở công nghệ hay những con số đầu tư. Giá trị lớn hơn chính là sự thay đổi trong nhận thức, tư duy phát triển. Thay vì chỉ tìm cách thích ứng với thiếu nước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã lựa chọn cách đi tìm nguồn nước, khai mở tiềm năng đang ngủ quên dưới lòng đất và biến tài nguyên ấy thành động lực phát triển.

Ông Phùng Quốc Huy, Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về dân tộc và miền núi, Bộ Dân tộc và Tôn giáo (thứ nhất bên phải), trưởng đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra, khảo sát một Hồ treo tích trữ nước thuộc xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang
Ông Phùng Quốc Huy, Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về dân tộc và miền núi, Bộ Dân tộc và Tôn giáo (thứ nhất bên phải), trưởng đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra, khảo sát một Hồ treo tích trữ nước thuộc xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang

Và hành trình ấy cũng gửi gắm một thông điệp có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, đó là: phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ dựa vào nguồn lực đầu tư, đặc biệt còn cần những giải pháp khoa học phù hợp với điều kiện tự nhiên và thực tiễn địa phương. Bởi khi bài toán nước sạch được giải quyết, không chỉ cuộc sống của người dân nói chung, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng được cải thiện mà cánh cửa phát triển kinh tế, du lịch, bảo tồn di sản và nâng cao chất lượng sống cũng được mở ra. Và tất cả bắt đầu từ một câu hỏi tưởng chừng rất bình dị nhưng chứa đựng khát vọng lớn lao của cả một vùng cao nguyên đá: “Làm sao để người dân có nước sạch?”/.