Hồ treo tích trữ nước thuộc xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên QuangNằm giữa vùng đá tai mèo hùng vĩ của cực Bắc Tổ quốc, xã Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang) được thành lập trên cơ sở sắp xếp đơn vị hành chính từ các xã, thị trấn Đồng Văn, Tả Lủng, Thài Phìn Tủng, Tả Phìn và Pải Lủng của huyện Mèo Vạc trước đây. Với diện tích tự nhiên hơn 122 km², 69 thôn và hơn 25.200 nhân khẩu thuộc 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 80%, Đồng Văn vừa là địa bàn có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh, vừa là vùng lõi của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn.
Thế nhưng, phía sau cảnh quan kỳ vĩ ấy là một thực tế kéo dài nhiều năm, đó là thiếu nước sinh hoạt… Do địa hình núi đá vôi bị chia cắt mạnh khiến nguồn nước mặt rất ít, nước ngầm nằm sâu trong lòng đất, trong khi lượng mưa phân bố không đều theo mùa. Mùa mưa, nước chảy tràn trên mặt đá rồi nhanh chóng thấm xuống các khe karst; mùa khô, nhiều khe suối cạn kiệt, bể chứa trơ đáy. Do đó, nước luôn là tài nguyên quý giá nhất đối với người dân nơi đây.
Nhằm từng bước giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt, giai đoạn 2021-2025, Dự án 1 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã ưu tiên bố trí nguồn lực đáng kể cho xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang.
Ông Phùng Quốc Huy, Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về dân tộc và miền núi, Bộ Dân tộc và Tôn giáo (thứ nhất bên trái), trưởng đoàn công tác kiểm tra liên ngành và Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang kiểm tra, khảo sát một Hồ treo tích trữ nước thuộc xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên QuangTheo báo cáo của UBND xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, đã có 1.043 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán; 37 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác. Đây là những công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với các thôn vùng cao, nơi người dân trước đây phải đi hàng cây số mới lấy được nước.
Bên cạnh hệ thống cấp nước tập trung, nhiều hồ treo, bể chứa nước và công trình thu gom nước mưa cũng được đầu tư nhằm tận dụng tối đa nguồn nước tự nhiên. Những công trình ấy đã góp phần nâng tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh lên khoảng 95%. Tuy nhiên, nếu xét theo tiêu chuẩn được cấp đủ 60 lít nước/người/ngày đêm, toàn xã mới chỉ đạt khoảng 27,3%. Hiện vẫn còn 4.139 hộ chưa được tiếp cận đầy đủ nguồn nước sạch hoặc còn gặp nhiều khó khăn về nước sinh hoạt.
Con số này cho thấy khoảng cách giữa “có nước” và “đủ nước sạch” vẫn còn khá lớn. Tại nhiều thôn của xã Đồng Văn như Pố Lổ, Sì Phài, Má Tìa..., người dân vẫn chủ yếu sử dụng nước khe núi, nước mưa hoặc nước được dẫn trực tiếp từ các mó nước tự nhiên. Vào mùa khô, nguồn nước suy giảm nghiêm trọng; còn mùa mưa, nước thường đục, lẫn nhiều bùn đất và tạp chất.
Không ít công trình hồ treo từng được kỳ vọng sẽ trở thành “ngân hàng nước” của vùng đá hiện nay cũng bộc lộ nhiều hạn chế… Do lượng mưa thất thường, nhiều hồ không tích đủ nước trong mùa mưa để phục vụ mùa khô. Một số hồ bị bồi lắng, rò rỉ hoặc xuống cấp sau nhiều năm khai thác. Hệ thống thu nước, bể lắng và đường ống ở một số nơi chưa được đầu tư đồng bộ khiến hiệu quả khai thác chưa đạt như mong muốn.
Trong khi đó, mạng lưới đường ống dẫn nước phải đi qua địa hình núi đá hiểm trở với độ dốc lớn, thường xuyên chịu tác động của sạt lở, thiên tai. Việc sửa chữa, thay thế vừa tốn kém, vừa gặp nhiều khó khăn về vận chuyển vật tư và nhân lực.
Theo thống kê của UBND xã Đồng Văn, hiện nay, ngoài 37 công trình cấp nước tập trung, trên địa bàn xã còn có 3 trạm bơm do đơn vị dịch vụ công ích quản lý gồm: Trạm bơm Quyết Tiến, Trạm bơm Séo Hồ, Trạm bơm Đồng Lực. Các trạm bơm này cơ bản đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho khu vực trung tâm và các vùng lân cận, song phạm vi cấp nước vẫn còn hạn chế, chưa thể mở rộng đến các thôn ở độ cao lớn, dân cư phân tán hoặc nằm xa tuyến cấp nước chính. Đó cũng là nguyên nhân khiến nhiều hộ dân vẫn phải tự tích trữ nước mưa hoặc dẫn nước bằng các đường ống nhỏ tự phát từ các khe núi.
Theo đánh giá của địa phương, khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở nguồn vốn đầu tư, mà còn ở điều kiện tự nhiên đặc thù.
Nguồn nước phân bố nhỏ lẻ, lưu lượng thấp; địa hình đá vôi khiến việc tìm kiếm nguồn nước mới rất khó khăn. Hầu hết, các nguồn nước chưa qua hệ thống xử lý đạt chuẩn trước khi đưa vào sử dụng. Trong mùa mưa, chất lượng nước thường giảm do lượng phù sa và tạp chất tăng cao.
Khảo sát một hồ treo tích trữ nước thuộc xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên QuangBên cạnh đó, nhiều tuyến đường ống đã xuống cấp sau nhiều năm khai thác. Việc thay mới hoặc mở rộng hệ thống cần nguồn kinh phí rất lớn, vượt khả năng cân đối của địa phương.
Đặc biệt, một số công trình sau khi bàn giao vẫn còn gặp khó khăn trong công tác quản lý, duy tu và bảo dưỡng. Ý thức bảo vệ nguồn nước của phần lớn người dân đã được nâng lên, song vẫn còn hiện tượng trông chờ vào nguồn hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tham gia bảo vệ, sửa chữa các công trình cấp nước cộng đồng.
Theo rà soát của UBND xã Đồng Văn, nhu cầu đầu tư trong giai đoạn 2026-2027 là 3 công trình ưu tiên, phục vụ 1.044 hộ dân. Giai đoạn 2028-2030, xã tiếp tục đề xuất 13 công trình, nhằm cấp nước cho thêm 1.739 hộ. Các công trình này không chỉ hướng tới bảo đảm nước sinh hoạt, đồng thời còn góp phần tạo điều kiện phát triển sản xuất, chăn nuôi, dịch vụ và du lịch trên Cao nguyên đá Đồng Văn.
Và để giải quyết căn cơ bài toán nước sạch, nhiều chuyên gia cho rằng cần chuyển từ tư duy “xây công trình” sang “quản trị tài nguyên nước”. Điều đó đồng nghĩa với việc kết hợp đầu tư hạ tầng với bảo vệ lưu vực, ứng dụng công nghệ xử lý nước phù hợp địa hình karst, tăng cường chuyển đổi số trong giám sát vận hành và huy động cộng đồng cùng tham gia quản lý công trình.
Qua đây, địa phương cũng kiến nghị các bộ, ngành Trung ương tiếp tục ưu tiên bố trí nguồn lực cho vùng đặc biệt khó khăn của xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang; nghiên cứu các mô hình cấp nước thích ứng với địa hình núi đá; hỗ trợ nâng cấp các hồ treo, bể chứa và hệ thống đường ống đã xuống cấp; đồng thời xây dựng cơ chế vận hành, bảo dưỡng bền vững sau đầu tư.
Nước sạch không đơn giản là một dịch vụ công thiết yếu. Trên Cao nguyên đá Đồng Văn, đó còn là điều kiện để giữ dân bám bản, phát triển sinh kế, phát triển du lịch và nâng cao chất lượng cuộc sống. Giải quyết bài toán nước sạch vì thế không chỉ là đầu tư cho hôm nay mà còn là đầu tư cho tương lai phát triển bền vững của vùng đất địa đầu Tổ quốc./.