Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Pháp luật về nhân đạo, từ thiện của một số nước trên thế giới và những gợi mở tham khảo đối với Việt Nam*

Trần Đình Hưng - Nguyễn Minh Phú** - 17:07, 23/07/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Hoạt động nhân đạo, từ thiện ở nước ta đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn, yếu thế trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lòng nhân ái, truyền thống của người Việt. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn công tác này cũng đang tồn tại những vấn đề như tính tự phát và có những biểu hiện tiêu cực; chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, làm giảm niềm tin của công chúng và xã hội. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là còn khoảng trống trong nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động nhân đạo, từ thiện. Bài viết nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý về hoạt động nhân đạo, từ thiện của một số nước trên thế giới nhằm đưa ra những gợi mở hoàn thiện pháp luật về hoạt động nhân đạo, từ thiện ở Việt Nam.

Quỹ xã hội, quỹ từ thiện được tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
Quỹ xã hội, quỹ từ thiện được tổ chức, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận

Từ khóa: Nhân đạo, từ thiện; Hoạt động nhân đạo, từ thiện; Hoàn thiện pháp luật; Việt Nam.

1. Quan niệm, mục đích của pháp luật về nhân đạo, từ thiện

Pháp luật về từ thiện nhân đạo là hệ thống các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội về hoạt động nhân đạo, từ thiện, bao gồm: thiết lập các chủ thể tham gia hoạt động từ thiện, quản lý hoạt động từ thiện, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động từ thiện, khen thưởng, kỷ luật, kiểm soát vấn đề minh bạch, trách nhiệm giải trình, và các vấn đề khác trong hoạt động nhân đạo, từ thiện, nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động nhân đạo, từ thiện, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm hạnh phúc và sự phát triển bền vững của xã hội.

Mục đích của pháp luật về nhân đạo, từ thiện nhằm đề ra “kim chỉ nam” cho hoạt động nhân đạo, từ thiện. Mục đích của pháp luật về từ thiện nhân đạo của các quốc gia trên thế giới xuyên suốt tất cả quá trình ra quyết định, bảo đảm môi trường pháp lý hỗ trợ cho các tổ chức nhân đạo, từ thiện thực hiện.

Mục đích của pháp luật về từ thiện nhân đạo, từ thiện theo nghĩa rộng, nhằm đảm bảo, ủng hộ sự phát triển của con người, sự giải tỏa bất kỳ hình thức cần thiết, nghèo khó hoặc bất lực nào[1], bảo đảm sự phát triển của con người, bao gồm trong các lĩnh vực như khoa học, triết học, nghệ thuật, thể thao, giáo dục và tôn giáo[2], khuyến khích lòng vị tha của công dân thông qua hoạt động tình nguyện và tài trợ. Mục đích của pháp luật về từ thiện nhân đạo, từ thiện theo nghĩa hẹp, đó là sự giới hạn trong sự cứu trợ những người già yếu, bất lực và nghèo khổ.

2. Kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nhân đạo, từ thiện của một số nước trên thế giới

Pháp luật về nhân đạo, từ thiện có truyền thống lịch sử lâu đời, xuất phát từ nước Anh từ thế kỷ XVII, vào năm 1601 với tên gọi là “Đạo luật Từ thiện 1601”. Các quốc gia trên thế giới như: Hoa Kỳ, Canada, Úc, New Zealand, Singapore, Trung Quốc… đã ban hành pháp luật về từ thiện với những tên gọi khác nhau như Luật Các tổ chức từ thiện của Hoa Kỳ, Luật Tổ chức phi lợi nhuận của Hoa Kỳ, Bộ luật Thuế của Hoa Kỳ, Luật Từ thiện của Cộng Hoà nhân dân Trung Hoa… Các quy định pháp luật về nhân đạo, từ thiện của các quốc gia trên thế giới đã tạo ra khung pháp lý cho các cá nhân, tổ chức hoạt động từ thiện như điều kiện thành lập các tổ chức từ thiện, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động từ thiện, trách nhiệm giải trình của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động từ thiện… Pháp luật về nhân đạo, từ thiện của đa số các quốc gia trên thế giới có mục đích quyết tâm, bảo vệ và hỗ trợ các nhóm thiểu số trong xã hội và giúp đỡ được những người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội như nghèo đói, y tế, giáo dục… nhằm phát triển xã hội, bảo vệ quyền con người và quyền công dân.

Về chủ thể pháp luật nhân đạo, từ thiện: Chủ thể pháp luật về từ thiện của Hoa Kỳ rất đa dạng, có nhiều tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động từ thiện, bao gồm các công ty, hiệp hội doanh nghiệp, công đoàn, công ty tư nhân, tổ chức gia đình, cơ sở cộng đồng, tổ chức tôn giáo, tổ chức giáo dục, những chuyên gia, cố vấn gây quỹ từ thiện, các cá nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật. Như vậy, các nhà từ thiện bao gồm bất kỳ ai, cống hiến bất cứ thứ gì như thời gian, tiền bạc, kinh nghiệm, kỹ năng để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn.

Chủ thể pháp luật từ thiện của các quốc gia trên thế giới như Úc, Anh… cũng rất đa dạng bao gồm các tổ chức từ thiện trong khu vực nhà nước và các tổ chức từ thiện trong khu vực tư.

Về hình thức thực hiện pháp luật từ thiện: (1) Đặt hòm quyên góp ở nơi công cộng; (2) Tổ chức các buổi biểu diễn từ thiện, cuộc thi từ thiện, bán hàng từ thiện, triển lãm từ thiện, đấu giá từ thiện, buổi tối từ thiện... cho công chúng; (3) Công bố thông tin gây quỹ qua đài phát thanh, truyền hình, báo chí, Internet và các phương tiện truyền thông khác; (4) Các phương thức gây quỹ đại chúng khác. Hình thức thực hiện hoạt động từ thiện theo pháp luật Trung Quốc rất đa dạng, huy động sự tham gia của nhiều chủ thể cho hoạt động từ thiện.

Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, các quỹ từ thiện đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực, bao gồm giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phúc lợi xã hội, quan hệ quốc tế, thư viện công cộng, tôn giáo, các phong trào xã hội và cải cách môi trường.

Hình thức thực hiện pháp luật nhân đạo, từ thiện rất đa dạng, bằng quà tặng, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực, quyên góp bằng hiện vật, phát triển cộng đồng, lập kế hoạch chiến lược.

Các nội dung cơ bản của pháp luật về nhân đạo, từ thiện

Một là, đăng ký từ thiện

Về yêu cầu pháp lý đối với các tổ chức từ thiện, tổ chức phải đó được thành lập chỉ vì mục đích từ thiện, vì lợi ích công cộng, một tổ chức sẽ không phải là một tổ chức từ thiện nếu các hoạt động mang tính chính trị. Hầu hết các tổ chức từ thiện bắt buộc phải đăng ký[3].

Theo quy định của pháp luật New Zealand, một tổ chức từ thiện sẽ được đăng ký sẽ dựa trên các điều kiện sau: các quy tắc pháp lý ràng buộc; trong trường hợp của những người được ủy thác của một quỹ tín thác, quỹ tín thác là một loại liên quan đến một khoản thu nhập mà những người được ủy thác nhận được cho các mục đích từ thiện. Sổ đăng ký tổ chức từ thiện là nền tảng của khung luật tổ chức từ thiện số hóa theo quy định[4]. Sổ đăng ký tổ chức từ thiện theo quy định của pháp luật New Zealand, bao gồm các sổ đăng ký các tổ chức từ thiện, sổ đăng ký phải là sổ điện tử, phải cho người dân truy cập vào đó, và công khai thông tin. Nội dung bao gồm: tên của tổ chức; địa chỉ cung cấp dịch vụ của đơn vị; số đăng ký của tổ chức; tên của những người chịu trách nhiệm của đơn vị và của tất cả những người đã từng là người chịu trách nhiệm của đơn vị kể từ khi đơn vị được đăng ký lần đầu tiên theo Đạo luật này; chi tiết liên hệ của người liên hệ đối với thực thể; bản sao các quy tắc của đơn vị và bất kỳ sửa đổi nào đối với các quy tắc của đơn vị; đơn đăng ký tổ chức và các quy định khác theo Đạo luật.

Tại nước Anh, các tổ chức từ thiện không bắt buộc phải đăng ký. Các tổ chức từ thiện đăng ký yêu cầu các ủy viên được yêu cầu duy trì một sổ đăng ký mở cho công chúng. Các tổ chức từ thiện miễn phí và tổ chức từ thiện ngoại lệ không cần phải đăng ký. Các tổ chức từ thiện được miễn bao gồm Bảo tàng Anh, Bảo tàng Victoria và Albert, và các Hội thân thiện đã đăng ký; các tổ chức từ thiện ngoại trừ là Hiệp hội Hướng đạo sinh Nam và Nữ hướng dẫn viên và một số tổ chức từ thiện nhất định có liên quan đến việc thúc đẩy hiệu quả của các lực lượng vũ trang. Tổ chức tôn giáo, cơ sở thờ tự của họ không cần đăng ký. Các tổ chức từ thiện không có tài sản vĩnh viễn cũng như không sử dụng hoặc chiếm giữ bất kỳ mảnh đất nào và có tổng thu nhập không vượt quá 1.000 bảng Anh mỗi năm thì không cần đăng ký.

Trong trường hợp một tổ chức từ thiện bị cáo buộc vi phạm, Ủy ban từ thiện có thể: Mở một cuộc điều tra theo luật định về một tổ chức từ thiện; đóng băng tài sản của tổ chức từ thiện; bổ nhiệm một người quản lý tạm thời; xóa người được ủy thác và quản lý của tổ chức từ thiện; chỉ định những người được ủy thác mới hoặc hướng dẫn những người được ủy thác sử dụng tài sản của tổ chức từ thiện theo một cách cụ thể; hạn chế các giao dịch mà tổ chức từ thiện có thể tham gia.

Tại Hoa Kỳ, điều kiện thành lập các tổ chức từ thiện bao gồm các tổ chức từ thiện công cộng và các tổ chức từ thiện tư nhân. Các tổ chức từ thiện đều có mục tiêu chung vì lợi ích công cộng, tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của tổ chức từ thiện công cộng và tổ chức từ thiện tư nhân là nguồn tài trợ và các hoạt động của các tổ chức.

Tổ chức từ thiện công cộng là các tổ chức gây quỹ và nhận đóng góp từ nhiều nguồn khác nhau như Chính phủ, các tổ chức và xã hội. Các quỹ từ thiện công thường bao gồm nhà thờ và bệnh viện, chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp để liên tục gây quỹ và phân bổ quỹ cho các mục đích từ thiện.

Tổ chức từ thiện tư là các tổ chức gây quỹ và nhận đóng góp từ nguồn tài trợ chính ở xã hội. Các quỹ từ thiện tư nhân thường chỉ có một nguồn tài trợ như một gia đình, cá nhân hoặc một công ty. Các quỹ từ thiện tư nhân thực hiện tài trợ cho cá nhân hoặc tổ chức nhằm hỗ trợ đa dạng về mặt kỹ thuật và xây dựng năng lực.

Các tổ chức từ thiện tư đều phải thực hiện quy định đăng ký với Chính phủ liên bang với tư cách là tổ chức phi lợi nhuận hoặc một quỹ tư nhân và tuân thủ theo các quy định của pháp luật, nhằm thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát đối với tài sản. Các tổ chức từ thiện cần phải chọn tên công ty hoặc tổ chức; dự thảo và trình các điều khoản với Bộ trưởng Ngoại giao, dự thảo các quy chế của công ty hoặc tổ chức; dự thảo một chương trình (bản) hành động liêm chính và có chữ ký của các bên, nộp đơn tuyển dụng liên bang, tổ chức cuộc họp đầu tiên của các giám đốc, nộp một Tuyên bố Thông tin cho Bộ trưởng Ngoại giao, đăng ký với Cơ quan đăng ký quỹ từ thiện theo quy định pháp luật, xác định xem có bất kỳ giấy phép bổ sung nào không. Các tổ chức từ thiện tư phải thực hiện việc đăng ký quy chế hoạt động phi lợi nhuận với chính quyền trước khi kêu gọi quỹ. Các tổ chức từ thiện tư nhân phải tuân theo các quy định nghiêm ngặt hơn so với các tổ chức từ thiện công cộng[5].

Hai là, điều khoản thành lập của tổ chức

(1) Tên của tổ chức; (2) Địa chỉ gửi thư đầy đủ; (3) Một cá nhân hoặc pháp nhân chịu trách nhiệm tiếp nhận các thông báo pháp lý hoặc các vụ kiện; (4) Địa chỉ đầy đủ của cá nhân/pháp nhân đại diện cho tổ chức; (5) Tuyên bố tổ chức là một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động vì lợi ích công cộng, không được thành lập vì lợi ích của bất kỳ cá nhân nào; (6) Mục đích cụ thể thành lập tổ chức; (7) Tuyên bố tổ chức được thành lập và hoạt động độc quyền cho các mục đích từ thiện hoặc giáo dục theo sự cho phép của Điều 501(c)(3) Bộ luật Thuế nội địa Hoa Kỳ; (8) Tuyên bố tổ chức sẽ không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hoặc thực hiện bất kỳ quyền hạn nào không liên quan đến mục đích của tổ chức và tổ chức sẽ không thực hiện bất kỳ hoạt động nào khác mà không được Điều 501(c)(3) Bộ luật Thuế nội địa Hoa Kỳ cho phép; (9) Xác nhận không có thành viên nào của tổ chức quảng bá hoặc cố gắng gây ảnh hưởng đến luật pháp và tổ chức không được phép tài trợ cho các đảng phái chính trị hoặc nhân danh các đảng phái chính trị, cũng như tham gia vận động bầu cử; 10) Tuyên bố tài sản của tổ chức từ thiện đó được dùng cho một mục đích cụ thể và không một phần thu nhập ròng hoặc tài sản nào của tổ chức sẽ được sử dụng cho lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân nào, bao gồm cả thành viên sáng lập và nhân viên của tổ chức; 11) Tuyên bố rằng tổ chức sẽ tuân thủ các quy tắc áp dụng cho các quỹ tư nhân nếu thích hợp; 12) Một tuyên bố rằng khi tổ chức bị giải thể hoặc chấm dứt hoạt động, tài sản còn lại sau khi thanh toán hoặc dự phòng thanh toán tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ của tổ chức, sẽ được phân phối cho một quỹ phi lợi nhuận hoặc tổ chức khác hoạt động độc quyền cho các mục đích từ thiện, giáo dục/tôn giáo đã đáp ứng được điều kiện miễn thuế theo Điều 501(c)(3) Bộ luật Thuế nội địa Hoa Kỳ.

Điều kiện là một tổ chức theo mục 501(c)(3), (là một tổ chức phi lợi nhuận tại Hoa Kỳ được miễn thuế liên bang) một chủ thể phải: Được tổ chức phù hợp với các mục đích miễn trừ; để thực hiện các mục đích được miễn trừ của nó; không tham gia hoặc can thiệp vào bất kỳ chiến dịch chính trị nào nhằm ủng hộ hoặc chống lại bất cứ ứng cử viên nào cho chức vụ công; không tham gia vào vận động hành lang; phân phối tài sản được thanh lý cho các mục đích được miễn theo mục 501(c)(3) cho một tổ chức khác thuộc mục 501(c)(3) (hoặc cho các mục đích được miễn theo mục đó để thực hiện các mục đích được miễn); không được tư lợi vì bất cứ mục đích nào và không trái với các quy định khác của điều kiện đó.

Các tổ chức 501(c)(3) thuộc một trong ba loại chính: tổ chức từ thiện công, cơ sở tư nhân và cơ sở hoạt động tư nhân.

Tổ chức từ thiện công cộng. Các tổ chức từ thiện công là những gì hầu hết mọi người công nhận là những tổ chức có các chương trình hoạt động. Ví dụ: bao gồm nhà thờ, tổ chức nhân từ, cơ quan phúc lợi động vật, tổ chức giáo dục.... Họ thường nhận được một phần đáng kể doanh thu từ công chúng hoặc từ chính phủ.

Để tiếp tục là một tổ chức từ thiện công cộng (chứ không phải là một tổ chức tư nhân), 501 (c) (3) phải nhận được ít nhất 1/3 doanh thu quyên góp từ một cơ sở hỗ trợ công cộng khá rộng rãi. Hỗ trợ công cộng có thể là từ các cá nhân, công ty và /hoặc các tổ chức từ thiện công cộng khác.

Các khoản đóng góp cho các tổ chức từ thiện công có thể được khấu trừ thuế cho cá nhân nhà tài trợ lên đến 60% thu nhập của nhà tài trợ. Giới hạn công ty nói chung là 10%. Ngoài ra, các tổ chức từ thiện công cộng phải duy trì một cơ quan quản lý chủ yếu bao gồm các cá nhân độc lập, không liên quan.

Các quỹ tư nhân thường được coi là tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ công việc của các tổ chức từ thiện công thông qua các khoản tài trợ. Các khoản đóng góp cho các quỹ tư nhân có thể được khấu trừ thuế cho cá nhân nhà tài trợ lên đến 30% thu nhập của nhà tài trợ. Việc quản lý một quỹ tư nhân có thể được tổ chức chặt chẽ hơn nhiều so với một tổ chức từ thiện công cộng.

Loại thứ ba là ít phổ biến nhất: nền tảng hoạt động tư nhân. Các tổ chức này thường duy trì các chương trình hoạt động tương tự như tổ chức từ thiện công, nhưng có thể có các thuộc tính (như quản trị chặt chẽ) tương tự như một tổ chức. Do đó, các cơ sở hoạt động tư nhân thường được coi là con lai. Hầu hết số tiền kiếm được phải dùng để thực hiện các chương trình. Khả năng khấu trừ đóng góp tương tự như một tổ chức từ thiện công cộng[6].

Tổ chức từ thiện phải đáp ứng các điều kiện sau: (1) Mục đích thực hiện các hoạt động từ thiện; (2) Không vì lợi nhuận; (3) có tên và nơi ở riêng; (4) có các báo cáo liên kết; (5) Tài sản cần thiết; (6) Có tổ chức và người phụ trách đủ năng lực; (7) Các điều kiện khác theo quy định của pháp luật và các quy định hành chính[7]. Hoạt động từ thiện nhấn mạnh đến việc không vì lợi nhuận, phạm vi kinh doanh tuân thủ theo các quy định của Luật từ thiện. Số dư thu nhập của các tổ chức từ thiện phải được dùng theo mục đích từ thiện, tài sản và thu nhập của các tổ chức từ thiện không được chia cho các thành viên, các mạnh thường quân hoặc các nhà hảo tâm của tổ chức từ thiện.

Để thành lập một tổ chức từ thiện, đơn đăng ký phải được nộp cho bộ phận dân sự của chính quyền nhân dân cấp quận hoặc cao hơn và bộ phận dân sự sẽ ra quyết định trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đơn. Những người đáp ứng các yêu cầu của luật này sẽ được chấp thuận đăng ký và thông báo cho công chúng; những người không đáp ứng các yêu cầu của luật này sẽ không được đăng ký và lý do phải được giải thích bằng văn bản[8]. Nếu có những trường hợp đặc biệt cần gia hạn thời gian đăng ký hoặc nhận dạng, thì có thể được gia hạn một cách thích hợp khi được sự chấp thuận của bộ phận dân sự của Quốc vụ viện, nhưng thời gian gia hạn không quá 60 ngày.

Cách thức hoạt động của các tổ chức từ thiện

Các tổ chức từ thiện công phải đối mặt với áp lực phải quyên góp từ tư nhân và một tổ chức liên kết được coi là chiến lược để đạt được mục tiêu này. Do đó, một cơ quan dịch vụ xã hội phi lợi nhuận có thể tạo ra một nền tảng để giúp nó gây quỹ từ cộng đồng địa phương[9]. Nhìn chung, luật pháp các tiểu bang ở Hoa Kỳ nghiêm cấm các cá nhân, tổ chức gây quỹ từ thiện sử dụng những thông tin, ký hiệu, hình ảnh gây nhầm lẫn, hiểu sai về đối tượng thụ hưởng, mục tiêu gây quỹ, hoặc bất cứ khía cạnh nào khác của hoạt động từ thiện. Pháp luật Hoa Kỳ cũng quy định chặt chẽ nhằm ngăn ngừa nguy cơ rửa tiền và tài trợ khủng bố thông qua hoạt động từ thiện[10].

Quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể

Thứ nhất, quyền lợi của chủ thể

Tại Hoa Kỳ, nhiều luật bình đẳng liên bang chỉ áp dụng cho các tổ chức từ thiện nhận “hỗ trợ tài chính liên bang”, được định nghĩa theo những cách khác nhau, nhưng về cơ bản có nghĩa là quỹ nhận trực tiếp hoặc gián tiếp từ chính phủ liên bang có thể là, nhưng không phải cũng không mang tính xác thực, được hiểu là bao gồm cả các nhượng bộ về thuế[11].

Theo Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ, các tổ chức từ thiện được kiểm soát bởi các tổ chức tôn giáo được miễn hầu hết các quy định mà chính phủ liên bang và tiểu bang Hoa Kỳ áp đặt đối với các tổ chức và các nhà cung cấp dịch vụ phi lợi nhuận. Thay việc không đánh thuế đối với các tổ chức từ thiện phúc lợi xã hội trên thực tế có thể phản ánh mức thuế trung bình của những người nhận trợ cấp[12]. Miễn trừ tất cả các loại thuế liên bang cho các tổ chức phi lợi nhuận được ưu đãi dành cho mọi mục đích khác và không đánh thuế các khoản tài trợ của trường đại học công.

Bộ Luật Thuế của Hoa Kỳ được thông qua vào năm 2017, theo điểm c, khoản 3, Điều 501, việc miễn thuế được áp dụng đối với tổ chức hoạt động riêng cho mục đích tôn giáo, từ thiện, khoa học…, hoặc để ngăn chặn hành vi tàn ác đối với trẻ em hoặc động vật. Bộ luật Thuế xác định nhiều loại của các tổ chức phi lợi nhuận mà không phải trả thuế thu nhập phải đủ điều kiện để được miễn thuế, thì (a) điều lệ của tổ chức - nếu một công ty phi lợi nhuận - hoặc (b) công cụ ủy thác - nếu một quỹ tín thác - hoặc (c) các điều khoản của hiệp hội - nếu một hiệp hội - phải nêu rõ rằng không một phần tài sản nào của nó sẽ mang lại lợi ích cho bất kỳ người nào là thành viên, giám đốc, cán bộ hoặc đại lý. Ngoài ra, tổ chức phải có mục đích hợp pháp, từ thiện, tức là tổ chức phải được tạo ra để hỗ trợ các hoạt động giáo dục, tôn giáo hoặc từ thiện.

Sự khác nhau giữa tổ chức từ thiện công cộng và tổ chức từ thiện tư, tổ chức từ thiện tư nhân phải trả 5% tài sản của tổ chức mỗi năm trong khi một tổ chức từ thiện công cộng không phải trả; các nhà tài trợ cho một tổ chức từ thiện công cộng nhận được lợi ích về thuế lớn hơn các nhà tài trợ cho một tổ chức từ thiện tư; một tổ chức từ thiện công cộng phải thu thập ít nhất 10% chi phí hàng năm từ công chúng để được duy trì miễn thuế, trong khi tổ chức từ thiện tư thì không phải thu. Đối với cá nhân khi tham gia các hoạt động từ thiện được miễn trừ thuế[13].

Các quốc gia như Anh, New Zealand đều có những quyền về thuế như miễn thuế và khấu trừ thuế là một hình thức trợ cấp được quản lý thông qua hệ thống thuế. Việc miễn thuế có tác dụng tương tự như một khoản trợ cấp tiền mặt cho tổ chức về số thuế mà tổ chức đó sẽ phải trả trên thu nhập của tổ chức đó.

Vai trò của hệ thống luật thuế từ thiện là khuyến khích mọi người trong xã hội tham gia vào các hoạt động từ thiện thông qua các chính sách ưu đãi, vận động các hoạt động từ thiện và giảm gánh nặng tài chính cho các tổ chức xã hội và các nhà tài trợ, do đó giúp họ tập trung vào mục tiêu phục vụ các quần thể mục tiêu của họ[14]. Các công ty và doanh nghiệp khác đã tài trợ tài sản cho các công trình phúc lợi công cộng có thể được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Các thể nhân cũng như các doanh nghiệp cá nhân đã hiến tặng tài sản cho các công trình phúc lợi công cộng có thể được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân. Các quy định cụ thể sẽ được trình bày trong các luật thuế hiện hành có liên quan[15].

Các quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, New Zealand… đều có những quyền về thuế như miễn thuế và khấu trừ thuế là một hình thức trợ cấp được quản lý thông qua hệ thống thuế. Việc miễn thuế có tác dụng tương tự như một khoản trợ cấp tiền mặt cho tổ chức về số thuế mà tổ chức đó sẽ phải trả trên thu nhập của tổ chức đó.

Thứ hai, nghĩa vụ của các chủ thể

Tại Hoa Kỳ, các tổ chức từ thiện có nghĩa vụ nộp báo cáo định kỳ cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, liệt kê các thông tin chi tiết về tổng số tài sản của tổ chức, nguồn gốc hình thành tài sản và các hoạt động chi tiêu của tổ chức. Một số thông tin tài chính bắt buộc phải nhập vào biểu mẫu, nhưng không bắt buộc phải đính kèm báo cáo tài chính. Công cụ tìm kiếm cho phép các thành viên của công chúng kiểm tra tính đủ điều kiện của tổ chức để nhận các khoản đóng góp từ thiện được khấu trừ thuế và xem xét thông tin về trạng thái và hồ sơ được miễn thuế của tổ chức[16].

Một số bang của Hoa Kỳ có quy định chặt chẽ hơn, đó là yêu cầu về báo cáo tài chính của các tổ chức từ thiện phải đi kèm với các loại báo cáo kiểm soát của một tổ chức kiểm toán độc lập, có giấy chứng nhận hoạt động hợp pháp và tuân thủ đầy đủ, chặt chẽ về mặt pháp lý của Hoa kỳ nhằm kiểm soát chặt chẽ, khoa học về mặt tài chính đối với các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào hoạt động từ thiện.

Tại nước New Zealand, nghĩa vụ tuân thủ các tiêu chuẩn để gây quỹ. Các tổ chức từ thiện được xem xét một cách toàn diện bao gồm thiết lập tiêu chuẩn, kế toán, kiểm toán, công nghệ thông tin, dữ liệu, luật ủy thác, cũng như kinh nghiệm chung của các tổ chức từ thiện. Nghĩa vụ với những người có trách nhiệm, phải bảo đảm rằng mỗi người chịu trách nhiệm của mình không bị tước tư cách trở thành người chịu trách nhiệm của một tổ chức từ thiện đã đăng ký quy định. Nghĩa vụ báo cáo hàng năm, đây là khuôn chung của tất cả các khuôn khổ về tổ chức từ thiện theo quy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nghĩa vụ tiết lộ số đăng ký theo yêu cầu. Nghĩa vụ lưu giữ hồ sơ kế toán.

Tại nước Anh, kế toán và Báo cáo của Tổ chức từ thiện: Tuyên bố về Thông lệ được khuyến nghị áp dụng cho các tổ chức từ thiện chuẩn bị tài khoản của họ theo Tiêu chuẩn báo cáo tài chính áp dụng, ngoại trừ các tổ chức từ thiện nhỏ không thuộc công ty (tổng thu nhập lên đến 250.000 bảng Anh) có thể báo cáo trên cơ sở tiền mặt.

Một tổ chức từ thiện phải nộp báo cáo công tác hàng năm và báo cáo kế toán tài chính cho bộ phận dân sự nơi tổ chức đó đăng ký hàng năm và những quy định của pháp luật khác có liên quan nhằm kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả đối với các tổ chức từ thiện.

3. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Trong thời gian tới, Việt Nam cần nghiên cứu các quy định của pháp luật của các quốc gia trên thế giới; trên cơ sở đó phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động nhân đạo, từ thiện nhằm định hướng và hoàn thiện pháp luật ở nước ta.

Thứ nhất, cần tích hợp hệ thống pháp luật nhân đạo, từ thiện thành một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất; cần ban hành Luật Nhân đạo, từ thiện để hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, nhằm bảo đảm các mục tiêu nhân đạo, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động từ thiện.

Thứ hai, cần quy định các hành lang pháp lý nhằm khuyến khích, tôn vinh các cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động từ thiện một cách bài bản, chuyên nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới cần có cơ quan đầu mối tổng hợp báo cáo về hoạt động từ thiện hàng năm; từ đó nhằm tạo ra cơ chế động lực, khuyến khích các chủ thể tham gia hoạt động từ thiện một cách tích cực nhằm bảo đảm chỉ số hạnh phúc của con người, cần thiết lập hệ thống khen thưởng hoạt động từ thiện cho các thể nhân, pháp nhân, cá nhân, tổ chức… khi tham gia vào hoạt động từ thiện của các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương.

Thứ ba, cần quy định mở rộng về điều kiện thành lập các tổ chức từ thiện, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động từ thiện. Để các chủ thể khi tham gia vào hoạt động nhân đạo, từ thiện có sự yên tâm và gắn bó với hoạt động.

Thứ tư, cần có biện pháp khuyến khích, tạo điều kiện thực hiện hoạt động nhân đạo, từ thiện một cách thường xuyên và lâu dài, tức là không chỉ dừng ở việc cứu trợ khẩn cấp, mà còn bảo đảm các mục tiêu an sinh xã hội và phát triển bền vững của con người.

Thứ năm, cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhân đạo, từ thiện của các cá nhân, tổ chức khi tham gia hoạt động từ thiện. Xây dựng hành lang pháp lý cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán đối với hoạt động nhân đạo, từ thiện nhằm thiết lập các trật tự pháp luật hiệu quả, chất lượng.

Thứ sáu, về việc kêu gọi, quản lý, sử dụng nguồn từ thiện nên thông qua hoạt động của một quỹ từ thiện. Trong một số trường hợp, cần xem xét quy định mức sàn phải lập quỹ để hoạt động khi giá trị tài sản được vận động và xác định cụ thể cơ chế tài chính phù hợp phục và có sự giám sát, theo dõi của người dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính chính trị - xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, cơ quan kiểm toán để làm căn cứ khi có vấn đề cần yêu cầu sự minh bạch.

Thứ bảy, trước, trong và sau khi hành lang pháp lý về nhân đạo, từ thiện được hoàn thiện, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội tại những nơi có các cá nhân tổ chức hoạt động thiện nguyện cần có sự tích cực, chủ động và hỗ trợ cho các cá nhân, nhà hảo tâm làm tròn trách nhiệm của mình, mặt khác hạn chế những nguy cơ tiền, vật chất từ thiện bị lạm dụng. Chính quyền các cấp cũng cần có những biện pháp, chương trình tuyên truyền, giáo dục, tập huấn cụ thể cho những cá nhân, tổ chức có mong muốn thực hiện việc thiện nguyện.

4. Kết luận

Từ thiện, nhân đạo là hoạt động mang tính cộng đồng và xuất hiện từ lòng hảo tâm của các cá nhân. Trách nhiệm của nhà nước nhằm bảo đảm các hoạt động này đi đúng hướng, hiệu quả và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nhà nước cần tạo ra hành lang pháp lý và cơ chế thực hiện cho hoạt động nhân đạo, từ thiện ở Việt Nam để bảo đảm hoạt động từ thiện ngày càng nhân rộng và có ý nghĩa thiết thực hơn cho cộng đồng xã hội trong giai đoạn hiện nay. Pháp luật về nhân đạo, từ thiện của một số quốc gia trên thế giới đã tạo ra hành lang pháp lý chuyên nghiệp, hiệu quả, khuyến khích hoạt động từ thiện phát triển; nhiều mô hình thực hiện pháp luật nhân đạo, từ thiện của các quốc gia trên thế giới để Việt Nam nghiên cứu, tham khảo. Từ đó, khuyến khích các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động nhân đạo, từ thiện có hiệu quả và được nhà nước quan tâm, tạo điều kiện phát triển, không chỉ mang ý nghĩa là hoạt động cứu trợ theo nghĩa hẹp mà còn mang ý nghĩa là hoạt động nhằm phát triển con người, không bỏ lại phía sau; giữ vững ổn định và phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân.

Tài liệu tham khảo

1. Duy Anh, 2021, Mỹ khuyến khích và quản lý người dân làm từ thiện như thế nào? https://zingnews.vn, truy cập ngày 4/5/2026.

2. Dr O Breen, Rev Dr L Carroll, N Lavery Independent Review of Charity Regulation Northern Ireland January 2022 at 90.

3. M McGregor-Lowndes and B Wyatt (eds) Regulating Charities: the Inside Story (Routledge, 2017) at 274.

4. Suzanne M Reisman, Law Offices of Suzanne M. Reisman, Charitable organisations in the United States (New York): overview, https://uk.practicallaw.thomsonreuters.com.

5. What is a 501(c)(3)?, https://www.501c3.org/what-is-a-501c3/

6. Điều 9, 10, Luật Từ thiện Trung Quốc.

7. Smith, S. R. (2010). Hybridization and nonprofit organizations: The governance challenge. Policy and Society, 29(3), pp. 219-229.

8. Brennan, D. (2002). “Charities and the Constitution: Evaluating the Role of Constitutional Principles in Determining the Scope of Tax Law’s Public Policy Limitation for Charities.” Florida Tax Review 5 (9): pp. 779-849.

9. Krever, R. (1991) “Tax Deductions for Charitable Donations: A Tax Expenditure Analysis.” In Charities and Philanthropic Organisations: Reforming the Tax Subsidy and Regulatory Regimes, edited by R. Krever, and G. Kewley, 1-28. Melbourne: Australian Tax Research Foundation.

10. David C. Hammack, Steven Rathgeb Smith (2018), Foundations in the United States: Dimensions for International Comparison, American Behavioral Scientist 2018, Vol. 62(12) p.1611.

11. Yang Tuanzhu, Charity Bluebook: Report on Charity Development of China (2014), Social Sciences Academic Press, May 2014, Page 35.

12. Điều 24 và 25 của Luật Quyên góp cho phúc lợi công cộng.

13. Sở Thuế vụ Tìm kiếm các tổ chức được miễn thuế: search-for-tax-exempt-Organization.

Chú thích

* Bài viết là sản phẩm của đề tài cấp Bộ năm 2024: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng dự thảo Luật điều chỉnh hoạt động nhân đạo, từ thiện”. đơn vị chủ trì Ban Tổ chức, Kiểm tra Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

** TS. Nguyễn Minh Phú, Phó Trưởng ban Tổ chức, Kiểm tra, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Cơ quan Ủy ban Trung ươngMặt trận Tổ quốc Việt Nam.