Sông Nho Quế là mạch nguồn tích trữ nước quan trọng của khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang)…Ở vùng núi đá tỉnh Tuyên Quang, nơi những sườn núi cao, đất canh tác hạn chế và mùa khô có thể kéo dài, mỗi mạch nước lại là một tài sản đặc biệt. Với đồng bào Mông, hiểu núi, hiểu đất và tìm được nguồn nước phù hợp từng là điều kiện quan trọng để lựa chọn nơi cư trú, tổ chức sản xuất và duy trì cuộc sống.
Tuyên Quang là địa bàn có hệ thống sông, suối phong phú nhưng phân bố nguồn nước không đồng đều. Ở những vùng núi cao, điều kiện địa hình khiến việc tiếp cận nước sinh hoạt và nước sản xuất khó khăn hơn. Theo đó, tại một số địa bàn có đông đồng bào Mông sinh sống, nguồn nước phụ thuộc nhiều vào mưa và các khe suối nhỏ. Thực tế tại xã Sà Phìn (tỉnh Tuyên Quang) cho thấy, địa hình núi đá vôi dốc đứng, đất sản xuất ít và manh mún, trong khi nguồn nước phụ thuộc vào mưa và các khe suối nhỏ.
Trong điều kiện ấy, tri thức địa phương không hình thành từ sách vở. Nó được tích lũy bằng quan sát, thử nghiệm và kinh nghiệm sống… Và người Mông biết tìm những nơi có mạch nước, nhận biết sự khác biệt của dòng chảy theo mùa, lựa chọn vị trí dẫn nước và sử dụng nguồn nước phù hợp với từng nhu cầu. Những kinh nghiệm ấy gắn với một nguyên tắc giản dị, đó là nước lấy từ tự nhiên phải được sử dụng tiết kiệm và nguồn nước phải được bảo vệ từ nơi phát sinh.
Đằng sau cách ứng xử đó là mối quan hệ mật thiết giữa nước và rừng. Theo các nghiên cứu về tri thức dân gian của người Mông ở vùng núi phía Bắc cho thấy, cộng đồng đã tích lũy nhiều kinh nghiệm về nguồn nước, bảo vệ rừng, canh tác và dự báo thời tiết. Những quy ước bảo vệ rừng đầu nguồn, hạn chế chặt phá cây cối quanh khu vực nguồn nước góp phần giữ đất, hạn chế xói mòn và duy trì nguồn nước sinh hoạt.
Và đặc biệt là tri thức ấy nhìn nước không tách rời hệ sinh thái. Một con suối là nơi lấy nước. Đồng thời, nó còn gắn với rừng ở thượng nguồn, với đất ở hai bên dòng chảy, với mùa mưa, mùa khô và với chính sinh kế của cộng đồng. Khi rừng còn khả năng giữ nước, dòng suối có cơ hội duy trì dòng chảy ổn định hơn; khi thảm thực vật bị suy giảm, đất dễ bị xói mòn, nước đục hơn và nguy cơ lũ quét, sạt lở cũng gia tăng.
Bởi vậy, việc giữ nước trong tri thức truyền thống trước hết là giữ không gian sinh thái tạo ra nước. Có lẽ, đây là điểm đáng quan tâm giữa tri thức địa phương và khoa học hiện đại.
Tận dụng từng hốc đá để canh tác, đồng bào dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang phải kè chắn đất cẩn thận nhằm giữ nước và tránh mưa làm xói mòn, rửa trôiSau khi sáp nhập tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, tỉnh Tuyên Quang (mới) có tỷ lệ che phủ rừng đạt gần 62%, đứng thứ 3 cả nước. Đây là kết quả từ những nỗ lực trong công tác bảo vệ, phát triển rừng mà ngành chức năng và các địa phương nỗ lực thực hiện… Tỉnh cũng xác định bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ là giải pháp dài hạn để bảo vệ tài nguyên nước và ứng phó biến đổi khí hậu.
Trong một vùng đất mà rừng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng như vậy, tri thức của cộng đồng sống lâu đời bên rừng càng có giá trị.
Chính vì vậy, người Mông có kinh nghiệm lựa chọn đất canh tác, bố trí cây trồng phù hợp địa hình và tận dụng nước tự nhiên. Kỹ thuật canh tác trên núi đá là một ví dụ. Tại vùng Cao nguyên đá, người Mông từng phải tận dụng từng hốc đá, từng khoảng đất nhỏ để gieo trồng; những kỹ thuật cải tiến gần đây tiếp tục dựa trên kinh nghiệm địa phương nhưng kết hợp với hướng dẫn khoa học nhằm giảm xói mòn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thích ứng với thiếu nước.
Từ góc nhìn của Tiến sĩ Lò Giàng Páo, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hỗ trợ Kinh tế miền núi Việt Nam: Giá trị của tri thức địa phương không nằm ở việc giữ nguyên mọi tập quán cũ, mà ở những nguyên tắc sinh thái hợp lý được cộng đồng hình thành qua quá trình thích ứng lâu dài. Những nguyên tắc ấy cần được nhận diện, kiểm chứng và kết hợp với khoa học hiện đại để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên.
Đây là cách tiếp cận đặc biệt quan trọng. Bởi không phải kinh nghiệm nào trong quá khứ cũng phù hợp với hiện tại. Biến đổi khí hậu, dân số, nhu cầu sản xuất, hạ tầng và thay đổi sinh kế đang làm điều kiện tự nhiên thay đổi. Vì vậy, bảo tồn tri thức địa phương không có nghĩa là đóng khung cộng đồng trong phương thức truyền thống, mà là chọn lọc những giá trị còn phù hợp để thích ứng với điều kiện mới.
Câu chuyện nước sạch ở một số bản người Mông tại Tuyên Quang cho thấy rõ hơn yêu cầu ấy. Chẳng hạn như tại Thôn 1A Thống Nhất, xã Yên Phú; xã Đồng Văn; Phố Bảng; Lũng Cú; Mèo Vạc; Khâu Vai;… trước đây nhiều hộ người Mông sử dụng nước sông, suối cho sinh hoạt và chưa có công trình vệ sinh đạt chuẩn. Khi chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường được triển khai, chính quyền địa phương phải kết hợp đầu tư cơ sở vật chất với vận động, thay đổi nhận thức và hướng dẫn người dân sử dụng nước hợp vệ sinh.
Ở đây, khoa học và tri thức cộng đồng không đối lập. Một bên cung cấp công nghệ, công trình, tiêu chuẩn vệ sinh; một bên cung cấp hiểu biết về địa hình, tập quán và cách tổ chức đời sống. Chỉ khi hai yếu tố cùng được tính đến, công trình nước mới có khả năng vận hành lâu dài. Và điều này đặc biệt quan trọng bởi xây dựng một hệ thống cấp nước chỉ là bước đầu. Giữ cho nguồn nước sạch và công trình hoạt động bền vững mới là bài toán lâu dài.
Thực tế tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy, tỉnh đã có 142 công trình cấp nước tập trung hoạt động bền vững và đã công bố danh mục 549 hồ, ao, đầm không được san lấp; đồng thời nhấn mạnh giải pháp bảo vệ rừng đầu nguồn để bảo đảm an ninh nguồn nước.
Những chính sách ấy sẽ hiệu quả hơn khi cộng đồng trở thành chủ thể. Người dân có thể tham gia giám sát nguồn nước, phát hiện sớm ô nhiễm, bảo vệ khu vực đầu nguồn, quản lý đường ống và cùng thống nhất quy ước sử dụng nước. Người có uy tín, trưởng thôn, già làng và những người am hiểu phong tục có thể đóng vai trò cầu nối, giúp các quy định mới được chuyển tải bằng ngôn ngữ và cách thức gần gũi với cộng đồng.
Đó cũng là lúc tri thức địa phương trở thành một nguồn lực xã hội cho quản trị tài nguyên. Theo đó, một hướng đi có triển vọng là lập bản đồ cộng đồng về nguồn nước. Những mạch nước, khe suối, khu rừng đầu nguồn, vùng thường xuyên thiếu nước hoặc có nguy cơ sạt lở có thể được người dân xác định, sau đó kết hợp với dữ liệu địa lý và hệ thống quan trắc của cơ quan chuyên môn.
Khi tri thức của người dân được số hóa một cách phù hợp, nó không còn chỉ nằm trong trí nhớ của một vài người cao tuổi.
Nó trở thành dữ liệu phục vụ cộng đồng.
Đặc biệt, cần trao vai trò cho thế hệ trẻ Mông. Những thanh niên vừa hiểu địa hình, tiếng nói, văn hóa của cộng đồng, vừa có khả năng sử dụng điện thoại thông minh, bản đồ số và các nền tảng dữ liệu có thể trở thành "cầu nối" giữa tri thức cha ông và khoa học hiện đại.
Nhưng trước khi số hóa, cần ghi chép đầy đủ, bài bản. Đặc biệt, cần hỏi những người già về tên gọi các mạch nước, cách nhận biết nguồn nước, quy ước bảo vệ rừng, kinh nghiệm ứng phó với mùa khô và những thay đổi của dòng suối qua nhiều thế hệ. Đây là một dạng ký ức sinh thái có giá trị và rất cần thiết.
Bởi khi một người già mất đi mà không truyền lại tri thức, cộng đồng có thể mất một phần dữ liệu mà không vệ tinh hay máy móc nào có thể phục hồi hoàn toàn.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, vấn đề này càng cấp thiết. Hạn hán, mưa cực đoan, lũ quét và sạt lở có thể làm thay đổi nhanh chóng điều kiện nguồn nước. Tri thức dân gian không thể thay thế hệ thống thủy văn, dự báo khí tượng hay công nghệ quan trắc, nhưng có thể bổ sung một lớp hiểu biết rất quan trọng, đó là kinh nghiệm sống trực tiếp của cộng đồng với địa hình và hệ sinh thái.
Vì vậy, hướng đi phù hợp không phải là lựa chọn giữa tri thức truyền thống và khoa học hiện đại.
Và đó phải là sự kết hợp giữa hai nguồn tri thức. Khoa học giúp giải thích và kiểm chứng. Tri thức địa phương giúp hiểu sâu hơn về địa bàn và hành vi cộng đồng. Nhà nước tạo chính sách và hạ tầng. Người dân trực tiếp thực hành và giám sát. Khi những yếu tố ấy gặp nhau, bảo vệ nguồn nước không còn là một nhiệm vụ hành chính đơn giản. Nó trở thành một cam kết cộng đồng.
Hồ treo thu trữ nước từ vách núi giúp giải cơn khát bao đời trên vùng cao nguyên đá tỉnh Tuyên QuangVà với người Mông ở vùng núi cao tỉnh Tuyên Quang, câu chuyện giữ nước thực chất là câu chuyện giữ sự sống: giữ rừng để giữ mạch nước, giữ nước để giữ sinh kế, giữ tri thức để giữ khả năng thích ứng và giữ cộng đồng để những kinh nghiệm quý giá không bị đứt gãy.
Do đó, một mạch nước nhỏ giữa núi đá có thể nuôi sống cả một bản làng. Nhưng để mạch nước ấy còn chảy qua nhiều thế hệ, cần một mạch nguồn khác, đó là tri thức được truyền lại từ người già cho người trẻ, từ cộng đồng cho cộng đồng và từ kinh nghiệm truyền thống đến khoa học hiện đại.
Và đó chính là giá trị sâu xa của tri thức địa phương trong giữ nguồn nước hôm nay…/.