Vùng cao phía Bắc tỉnh Tuyên Quang có địa hình núi đá vôi cổ, ít đất phủ, độ dốc cao, cấu trúc đá tai mèo lởm chởm nên không giữ được nước mặt, nước mưa vừa rơi xuống đã bị nuốt chửng vào các hang động ngầmKhô khát trên miền đá
Vùng cao núi đá phía Bắc tỉnh Tuyên Quang hàng chục năm nay luôn là địa bàn “khát nước” sinh hoạt, đặc biệt là về mùa khô, cao điểm từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau. Nguyên nhân là do vùng này phần lớn diện tích là núi đá vôi cổ, ít đất phủ, độ dốc cao, cấu trúc đá tai mèo lởm chởm, nhiều khe nứt lớn khiến lượng mưa trong vùng dù tương đối cao, khoảng gần 1.800mm/năm nhưng vừa rơi xuống đã bị nuốt chửng vào các hang động ngầm.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia, vùng cao núi đá phía Bắc có nước nhưng ở vị trí quá sâu, thấp hơn nơi người dân sinh sống từ 800-1.000m nên việc khai thác vô cùng khó khăn và tốn kém. Lãnh đạo xã Mèo Vạc cho biết, đặc điểm địa chất núi đá vôi quyết định toàn bộ thách thức cấp nước của xã. Địa tầng đá vôi không tích nước ngầm; toàn bộ nguồn nước là nước mặt phụ thuộc lượng mưa theo mùa. Mùa mưa lưu lượng dồi dào nhưng chất lượng kém do sạt lở; mùa khô gần như không có nước tự nhiên. Đây là thách thức bất biến, không thể giải quyết bằng giải pháp thông thường của vùng đồng bằng. Ngoài ra, dân cư phân bố rất thưa thớt, nhiều bản làng nằm cheo leo trên sườn núi hoặc giữa những dãy núi đá, nhiều nhóm hộ dân chỉ có 5-7 nóc nhà, ở phân tán, rải rác khiến việc đưa nước sạch đến từng hộ dân chưa bao giờ là bài toán đơn giản.
Phụ nữ và trẻ em là những người vất vả nhất vì phải mất rất nhiều thời gian đi gùi nước cách xa nhà hàng kilômét trong mùa khô để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt trong gia đìnhTrên vùng cao nguyên khô khát đó, có những gia đình 4-5 người phải dùng chung một chậu nước rửa mặt. Sau đó dùng làm nước rửa tay, cho gia súc uống. Có những gia đình, phụ nữ và trẻ em phải dành cả ngày đi cõng nước cách xa nhà hàng km về để phục vụ sinh hoạt và chăn nuôi. Việc trồng trọt trong bối cảnh đó đương nhiên lệ thuộc hoàn toàn vào ông trời. Năm nào mưa thuận gió hòa, người dân còn có cái ăn. Năm nào hạn hán, ít mưa, cây lương thực sinh trưởng kém, đời sống người dân đã khó khăn càng khó khăn thêm.
Gần 30 năm trước, tỉnh Hà Giang (cũ) đã triển khai mạnh mẽ chương trình hỗ trợ “một mái nhà, một con bò, một bể nước” cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trên vùng cao nguyên đá. Ngày đó, những bể nước dung tích vài mét khối được Nhà nước hỗ trợ đã giúp các gia đình tích nước trong mùa mưa để phần nào cầm cự trong những tháng mùa khô.
Tiếp đó, từ năm 2002, với sự giúp đỡ của Viện Địa chất và nguồn lực đầu tư của Nhà nước, những công trình hồ treo có dung tích từ hàng nghìn đến hàng chục nghìn mét khối lần lượt được xây dựng ở nhiều địa điểm trên cao nguyên đá. Mỗi hồ treo được ví như “túi nước trên trời”, làm nhiệm vụ tích nước mưa trong mùa hè để người dân có nước uống vào mùa khô hạn, kéo dài 6-7 tháng liên tiếp. Từ đó đến nay, hồ treo vẫn được đánh giá là giải pháp cấp nước duy nhất có tính khả thi, có khả năng áp dụng và nhân rộng tốt nhất trong điều kiện vùng núi đá đã loại trừ hoàn toàn khả năng khai thác nước ngầm.
Tác động từ Chương trình Mục tiêu quốc gia 1719
Ở vùng cao, nước không chỉ phục vụ những nhu cầu sinh hoạt hằng ngày như ăn uống, tắm giặt, vệ sinh, mà còn giúp duy trì sản xuất, chăn nuôi, từ đó tác động đến xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống, chống di dịch cư tự do... Với đồng bào dân tộc thiểu số trên cao nguyên đá, có được một nguồn cung cấp nước ổn định đồng nghĩa với việc phụ nữ và trẻ em không phải đi gùi nước cách xa nhà hàng kilômét trong mùa khô; hạn chế tình trạng trẻ em phải bỏ học để giúp gia đình đi lấy nước; là giảm thiểu các dịch bệnh đường tiêu hóa do dùng nước không qua xử lý; là điều kiện để vận hành trường học, trạm y tế, các công trình công cộng. Có nước còn góp phần thúc đẩy du lịch - một hướng phát triển kinh tế mới rất hiệu quả ở khu vực cao nguyên đá Đồng Văn…
Gia đình anh Lương Văn Mềnh, thôn Khuôn Làn, xã Tri Phú được hỗ trợ bồn chứa nước sinh hoạt từ nguồn vốn Dự án 1 Chương trình MTQG 1719Bởi tầm quan trọng của nước sinh hoạt mà từ tháng 3/2003, trong Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đạt ra mục tiêu đến năm 2010, trên 90% hộ dân có đủ nước sinh hoạt.
Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW yêu cầu tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nước sinh hoạt, đồng thời yêu cầu ban hành Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Chủ trương của Đảng là căn cứ để Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719), trong đó có Dự án 1: Giải quyết những vấn đề cấp thiết nhất của đồng bào dân tộc thiểu số về tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt.
Thực hiện Chương trình MTQG 1719, giai đoạn 2021-2025, tỉnh Tuyên Quang đã từng bước cải thiện tình trạng thiếu nước sinh hoạt của người dân. Theo số liệu của Sở Dân tộc và Tôn giáo, tỉnh đã hỗ trợ 36.978 hộ (chủ yếu hỗ trợ mua sắm dụng cụ chứa nước và dây dẫn nước), đạt 103% kế hoạch giai đoạn. Đối với nội dung hỗ trợ nước sinh hoạt tập trung, tỉnh đã đầu tư xây dựng 61 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, góp phần nâng tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt khoảng 95%.
Tại địa bàn trọng điểm thiếu nước sinh hoạt như xã Đồng Văn, giai đoạn 2021-2025, địa phương đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 1.043 hộ và đầu tư xây dựng 37 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, đưa tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt khoảng 95%. Đáng chú ý là tại đây, giải pháp xây dựng hồ treo của hơn 20 năm trước vẫn tiếp tục được thực hiện bằng nguồn vốn của Chương trình MTQG 1719 mang lại hiệu quả cao. Điển hình là hồ treo tại thôn Sà Lủng mới đưa vào sử dụng khoảng 02 năm, có dung tích thiết kế gần 2.000 m³, hiện là nguồn cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho 58 hộ gia đình, với 100% là đồng bào dân tộc Mông.
Tương tự, tại một địa bàn trọng điểm thiếu nước khác là xã Mèo Vạc (mới), giai đoạn 2021-2025, trên địa bàn 04 xã trước khi sắp xếp đơn vị hành chính đã đầu tư 02 công trình hồ chứa nước tập trung tại thôn Hố Quáng Phìn và thôn Há Cá Thình; đồng thời thực hiện hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 46 hộ nghèo thông qua hỗ trợ téc chứa nước. Theo báo cáo của xã, đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh đã đạt 100% về hình thức, với chất lượng nước thỏa mãn các yêu cầu cơ bản: trong, không màu, không mùi, không vị lạ. Hiện nay, xã Mèo Vạc đang triển khai đầu tư 02 hồ chứa nước thuộc Dự án 1 trong Chương trình MTQG 1719 và chuẩn bị đầu tư hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung khu vực trung tâm xã, gồm trạm xử lý nước và các hồ treo trữ nước. Sau khi hoàn thành, các công trình sẽ từng bước nâng cao năng lực cấp nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân, góp phần khắc phục tình trạng thiếu nước tại địa bàn vùng núi đá đặc biệt khó khăn.
Người dân lấy nước tại Hồ treo Tả Lủng A, xã Sà PhìnỞ nơi nước “quý như vàng”, đồng bào đều có ý thức giữ gìn khu vực hồ sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước và chấp hành các quy định trong khai thác, sử dụng công trình. Có nơi còn xây dựng hàng rào và cổng bảo vệ nhằm hạn chế tác động từ bên ngoài. Công tác quản lý, theo dõi được giao cho nhà văn hóa thôn phối hợp với cộng đồng dân cư thực hiện nên đã phát huy vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ công trình, góp phần duy trì hiệu quả hoạt động, bảo đảm chất lượng nguồn nước. Mô hình quản lý cộng đồng được đánh giá là hướng đi phù hợp, góp phần duy trì hiệu quả của các công trình sau đầu tư và cần được nghiên cứu, nhân rộng đối với các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Giai đoạn 2026-2030, tiếp tục quan tâm giải quyết vấn đề nước sinh hoạt
Dù thu được nhiều kết quả tích cực, song điều đó không đồng nghĩa với việc bài toán khát nước sạch ở Tuyên Quang đã được giải quyết trọn vẹn. Theo rà soát, toàn tỉnh hiện vẫn còn 13.059 hộ thuộc 16 xã gặp khó khăn về nước sinh hoạt. Chẳng hạn, tại xã Đồng Văn, mặc dù tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đã đạt 95%, nhưng mới chỉ có 27,3% số hộ được bảo đảm đủ lượng nước theo tiêu chuẩn 60 lít/người/ngày đêm; vẫn còn hơn 4.100 hộ chưa tiếp cận được nguồn nước sạch hoặc thường xuyên thiếu nước sinh hoạt. Phần lớn người dân phải sử dụng nước khe, nước mưa chưa qua xử lý nên chất lượng và lưu lượng nguồn nước rất thiếu ổn định, đặc biệt vào mùa khô.
Tại xã Mèo Vạc, ước tính còn khoảng 600-800 hộ dân (chiếm 15-20% tổng số hộ) chưa được tiếp cận nguồn nước đảm bảo, thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô, tập trung chủ yếu tại các thôn vùng cao, xa trung tâm xã. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn (QCVN 01-1:2024/BYT) là 0%, do trên địa bàn chưa có công trình cấp nước tập trung hay công trình cấp nước quy mô hộ gia đình nào được công nhận đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Không chỉ ở Đồng Văn, Mèo Vạc, người dân ở nhiều địa phương khác cũng đang phụ thuộc chủ yếu vào nước mưa hoặc nguồn nước tự nhiên. Một số công trình cấp nước được đầu tư từ nhiều năm trước đã xuống cấp, công suất không còn đáp ứng nhu cầu, hệ thống thu nước, bể lọc và đường ống hư hỏng gây thất thoát nước.
Ông Phùng Quốc Huy, Phó Chánh Văn phòng Quốc gia dân tộc và miền núi, Bộ Dân tộc và Tôn giáo (áo trắng), Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành và ông Sèn Thăng Long, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang trao đổi về việc tích trữ nước tại một hồ treo thuộc xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên QuangNgày 23/4/2026, tại một cuộc họp do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì đánh giá kết quả triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ 2026-2030 (Chương trình MTQG 417), phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện đến hết năm 2026, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr cho biết, với tinh thần chủ động, Bộ đã đề xuất lộ trình giải quyết dứt điểm hai vấn đề bức thiết nhất trong năm 2026 và chậm nhất là quý II/2027 để tạo ra một phong trào và chuyển biến. Một trong hai vấn đề đó là giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu nước sạch trên địa bàn vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của cả nước.
Tiếp đó, ngày 12/5/2026, tại Hà Nội, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ký kết Chương trình phối hợp phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Một nội dung được hai Bộ thống nhất là phấn đấu giải quyết dứt điểm trong giai đoạn 2026-2027 việc cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho 100% người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bởi đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gắn với yêu cầu bảo đảm điều kiện sống tối thiểu và tạo nền tảng để người dân tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin, sản xuất, sinh kế, chuyển đổi số và các dịch vụ cơ bản khác.
Từng có thời gian hai năm đảm nhiệm cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang (cũ), tại Hội nghị ký kết, một lần nữa vấn đề nước sinh hoạt ở Tuyên Quang được Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang nêu ra. Theo Bộ trưởng, ở nhiều nơi, “có nước dùng đã là quý”, chưa dám nói đến nước sạch đạt tiêu chuẩn. Dẫn thực tế tại xã Nghĩa Thuận, Bộ trưởng cho biết, một trường nội trú với khoảng 1.000 học sinh phải dẫn nước từ mỏ nước trên đỉnh núi cách khoảng 10km, nhưng chỉ qua đường ống nhỏ phi 20, khiến việc bảo đảm nước sinh hoạt tối thiểu cho học sinh gặp rất nhiều khó khăn.
Nêu ra để thấy, nước sinh hoạt luôn là một vấn đề cấp thiết ở nhiều nơi thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó vùng cao núi đá phía Bắc tỉnh Tuyên Quang là một địa bàn trọng điểm. Vấn đề này đã được các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương xác định ưu tiên đầu tư để sớm giải quyết dứt điểm, thông qua mục tiêu cần đạt được trong Chương trình MTQG 417, đó là 100% đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 20% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn.
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng ký kết Chương trình phối hợp phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030, trong đó có nội dung giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho 100% người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núiTại Nội dung thành phần 02 thuộc Hợp phần thứ nhất của Chương trình MTQG 417 có nội dung 10: Phát triển công trình cấp nước sạch tập trung tại các xã hoặc liên xã phù hợp với đặc thù vùng, miền, bảo đảm hoạt động hiệu quả, bền vững, trong đó tập trung, ưu tiên đầu tư tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn; khu vực biên giới; vùng khan hiếm, khó khăn về nguồn nước; khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước; vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây chính là căn cứ để tỉnh Tuyên Quang tập trung giải quyết vấn đề cấp thiết hàng đầu là thiếu nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là tại các xã vùng cao núi đá phía Bắc.
Thực tế là theo đề xuất của địa phương, giai đoạn 2026-2027, tỉnh cần ưu tiên đầu tư 102 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung (trong đó có 52 công trình hồ treo; 21 công trình bể nước dung tích 5.000m3; 31 công trình hệ thống đường ống dẫn nước, nâng cấp sửa chữa duy tu công trình) và sửa chữa, nâng cấp các công trình hiện có với tổng kinh phí khoảng 812,46 tỷ đồng, nhằm đáp ứng nhu cầu của hơn 13.000 hộ dân còn đang thiếu nước sinh hoạt.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng đề xuất thực hiện chính sách hỗ trợ dụng cụ chứa nước (bồn, lu, bể) cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tại các thôn đặc biệt khó khăn chưa có công trình tập trung, đảm bảo mỗi hộ có tối thiểu 01 bể hoặc bồn chứa nước mưa dung tích từ 6m3 trở lên. Hỗ trợ lắp đặt hệ thống bơm nước tập trung cho các hộ sử dụng nước sinh hoạt xã Đồng Văn và xã Mèo Vạc.
Tỉnh cũng đề nghị Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổ chức hội thảo có sự tham gia của Ủy ban nhân dân các xã vùng cao nguyên đá, cơ quan quản lý nhà nước về thuỷ lợi, Viện Khoa học Địa chất, khoáng sản; Ban Quản lý Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn để đánh giá khách quan nhu cầu và giải pháp phù hợp để xử lý vấn đề cấp nước sinh hoạt cho nhân dân.
Những đề xuất kiến nghị này của địa phương đã được Đoàn kiểm tra liên ngành kết quả thực hiện nội dung hỗ trợ nước sinh hoạt thuộc Dự án 1 của Chương trình MTQG1719 và khảo sát nhu cầu, giải pháp giải quyết nhu cầu nước sạch của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 tiếp thu đầy đủ để tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo xem xét, chỉ đạo và kiến nghị cấp có thẩm quyền theo quy định. Cũng theo Đoàn kiểm tra, việc tiếp tục ưu tiên bố trí nguồn lực để đầu tư các công trình cấp nước sinh hoạt, đồng thời hỗ trợ các giải pháp cấp nước sinh hoạt phù hợp với điều kiện đặc thù của tỉnh Tuyên Quang là hết sức cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Song song với đầu tư, trước mắt, tỉnh Tuyên Quang cần tiếp tục rà soát, đánh giá hiện trạng các công trình hồ treo, bể chứa nước và hệ thống cấp nước sinh hoạt trên địa bàn; sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư đối với các khu vực thường xuyên thiếu nước sinh hoạt, vùng núi đá và các thôn đặc biệt khó khăn chưa có công trình cấp nước hoặc công trình hoạt động kém hiệu quả. Củng cố mô hình quản lý, vận hành công trình sau đầu tư; tăng cường đào tạo, hướng dẫn đội ngũ quản lý ở cơ sở, phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo vệ nguồn nước, giữ gìn vệ sinh khu vực công trình và khai thác công trình an toàn, bền vững. Đẩy mạnh công tác kiểm tra chất lượng nguồn nước, kịp thời phát hiện và khắc phục các nguy cơ gây ô nhiễm; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm và giữ gìn các công trình cấp nước sinh hoạt.
Nước sinh hoạt không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ sức khỏe và tạo nền tảng cho phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hành trình đưa nước về với những thôn bản ở vùng cao Tuyên Quang dù còn nan giải nhưng vẫn đang tiếp diễn.
Với quyết tâm của Đảng,Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương; sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương và đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là nguồn lực từ Chương trình MTQG 417, hy vọng tỉnh Tuyên Quang sẽ sớm hoàn thành việc giải bài toán “khát nước” cho 16 xã và 13.059 hộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở những địa bàn hiện đang gặp khó khăn về nước sinh hoạt.