Một góc xã Lũng Phìn, tỉnh Tuyên QuangTỉnh Tuyên Quang mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang (cũ) và Hà Giang. Sau sáp nhập, tỉnh Tuyên Quang mới có diện tích trên 13.795km², quy mô dân số trên 1,8 triệu người, đồng bào dân tộc thiểu số có trên 1,3 triệu người, chiếm trên 73% dân số, với 46 thành phần dân tộc, (trong đó: dân tộc Tày chiếm 24,6%; dân tộc Mông chiếm 19,9%; dân tộc Dao chiếm 13,6%; dân tộc Nùng chiếm 5,9%; dân tộc Sán Chay chiếm 4,4%; dân tộc Giáy chiếm 0,99%; dân tộc Sán Dìu chiếm 0,96%, còn lại là các dân tộc khác). Trên địa bàn tỉnh có 5 dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, gồm: Dao, Mông, Thái, La Chí, Phù Lá; 4 dân tộc có khó khăn đặc thù, gồm: Lô Lô, Cờ Lao, Pà Thẻn, Bố Y.
Tỉnh Tuyên Quang có 123/124 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gồm 22 xã khu vực I, 14 xã khu vực II, 87 xã khu vực III và 1.905 thôn đặc biệt khó khăn. Như vậy, Tuyên Quang là tỉnh có số lượng xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực III và thôn đặc biệt khó khăn lớn nhất cả nước. Đây là một thách thức vô cùng lớn đối với tỉnh trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong điều kiện gặp những khó khăn đặc thù của một tỉnh miền núi cao, biên giới, các xã phía Bắc thuộc địa bàn tỉnh Hà Giang cũ có địa hình bị chia cắt mạnh, trình độ dân trí, trình độ sản xuất của đồng bào còn thấp, xuất phát điểm về kinh tế hạn chế, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn...
Từ những khó khăn đặc thù đó, tỉnh Tuyên Quang nhận thức sâu sắc và đánh giá cao ý nghĩa, tầm quan trọng của các chương trình mục tiêu quốc gia đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn.
Giai đoạn I (2021-2025), tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719) tại tỉnh Hà Giang (cũ) là trên 6.844 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương trên 6.390 tỷ đồng. Tổng số vốn giải ngân trên 4.473 tỷ đồng, đạt 73,15% kế hoạch. Chương trình góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 42,85% năm 2021 xuống còn 25,93% cuối năm 2024, mức giảm bình quân 5,38%/năm; các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn giảm trên 6%/năm. 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông; 98,07% thôn bản có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 93% đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh...
Tại tỉnh Tuyên Quang (cũ), nguồn vốn Chương MTQG 1719 là trên 3.100 tỷ đồng. Việc triển khai thực hiện Chương trình đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người tăng thêm 11,6 triệu đồng/người/năm so với năm 2021. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân trên 7%/năm, cao hơn tỷ lệ giảm nghèo chung của cả nước. Hàng nghìn công trình giao thông, thủy lợi, trường học, nhà văn hóa, chợ dân sinh được xây mới, sửa chữa, nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của người dân. Công tác duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng được chú trọng, bảo đảm phát huy hiệu quả lâu dài của các nguồn vốn đầu tư…
Mô hình chăn nuôi lợn của gia đình anh Vừ Sìa Sính tại xã Khâu Vai, tỉnh Tuyên Quang được hỗ trợ bằng nguồn vốn Chương trình MTQGNửa đầu năm 2026, bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ được giao, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang đã tích cực tham mưu triển khai Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026; kịp thời tham mưu UBND tỉnh ban hành, điều chỉnh một số cơ chế, chính sách liên quan; tổ chức rà soát, tổng hợp nhu cầu vốn, danh mục công trình và tình hình thực hiện các dự án, tiểu dự án thuộc Chương trình; theo dõi, tổng hợp, đôn đốc và tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn...
Đặc biệt, tháng 5/2026, Sở Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Thông báo số 41 thành lập 04 tổ công tác xuống 117 xã, theo đó, chia làm 04 nhóm xã, mỗi nhóm từ 25- 30 xã, mỗi nhóm có 01 đồng chí lãnh đạo Sở và từ 1 -2 chuyên viên thực hiện nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc các xã giải ngân; trong đó, sẽ tổ chức làm việc trực tuyến, nếu cần thiết thì làm việc trực tiếp với các nhóm xã để nắm bắt tình hình, tiến độ, đôn đốc, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai, nhất là các xã, cơ quan đơn vị có nhiều vướng mắc, tỷ lệ giải ngân đạt thấp, để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn của Chương trình, tập trung trong tháng 6, 7, 8.
Lãnh đạo Sở Dân tộc và Tôn giáo kiểm tra, nắm tình hình triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.Tính đến 24/6/2026, tỉnh Tuyên Quang đã giải ngân 490,881/kế hoạch 1.508,374 tỷ đồng, đạt 32,5%. Trong đó vốn đầu tư đã giải ngân 174,740/kế hoạch 802,517 tỷ đồng, đạt 21,8%; dự kiến chuyển nguồn, thu hồi về ngân sách cấp tỉnh 22.500 triệu đồng. Vốn chi thường xuyên đã giải ngân 316,141/kế hoạch 705,857 tỷ đồng, đạt 44,8%; dự kiến chuyển nguồn, thu hồi về ngân sách cấp tỉnh 25,765 tỷ đồng. Nguồn vốn được giải ngân đã góp phần từng bước cải thiện điều kiện sống của đồng bào dân tộc thiểu số, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh.
Ông Đỗ Việt Dũng, Chủ tịch UBND xã Đường Hồng, một xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Tuyên Quang khẳng định, nguồn vốn của 3 chương trình MTQG, nhất là nguồn vốn sự nghiệp của Chương trình MTQG 1719 để hỗ trợ các mô hình phát triển kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người dân được hỗ trợ kinh phí sẽ có điều kiện để chuyển đổi từ cây trồng, vật nuôi năng suất, hiệu quả kém sang các cây, con có giá trị kinh tế cao hơn, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Khi đời sống của bà con được nâng lên cũng chính là góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thực tế cho thấy, không chỉ ở xã Đường Hồng, tại nhiều địa bàn đặc biệt khó khăn khác, nguồn vốn của Chương trình MTQG 1719 được đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang vui mừng đón nhận, đưa vào các mô hình phát triển sinh kế. Tại xã Minh Tân, đồng bào dân tộc thiểu số đang chuyển sang nuôi cá bỗng - loài cá nước ngọt quý hiếm, thân dài, vảy lớn óng ánh, thịt thơm, săn chắc và ít xương dăm, được người dân ví như “đặc sản tiến vua” của vùng sông suối. Ông Lộc Văn Xuân - Trưởng thôn Tân Sơn, xã Minh Tân phấn khởi cho biết, ngoài được hỗ trợ về nguồn cá giống, bà con còn được hỗ trợ cả về khoa học kỹ thuật ươm giống cá bỗng, giúp chủ động nguồn con giống tại chỗ, giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu, hạn chế dịch bệnh từ bên ngoài, đảm bảo tỷ lệ sống cao, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản, đồng thời tạo ra nguồn cung ổn định cho các hộ dân lân cận.
Còn tại thôn Đội 5, xã Linh Hồ, gia đình anh Vừ Mí Kiên được hỗ trợ vay vốn tín dụng chính sách 30 triệu đồng để mua 2 con trâu sinh sản. Nay gia đình anh đã có 4 con trâu và thoát nghèo. Anh Kiên hào hứng khẳng định việc mạnh dạn vay vốn tín dụng chính sách trong Chương trình đã trở thành điểm tựa để gia đình phát triển sản xuất, từng bước vươn lên ổn định cuộc sống.
Nuôi trồng thủy sản là hướng sinh kế hiệu quả của nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang (Ảnh: Trần Dũng)Năm 2026 là năm đầu triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ năm 2026-2030 (Chương trình MTQG 417). Năm nay, Tuyên Quang phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều 3,5%; có 5 xã và 76 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.
Là năm đầu triển khai Chương trình MTQG mới, cơ chế, chính sách có nhiều thay đổi bởi sự tích hợp từ 3 chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững; Phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thành một chương trình, vì vậy, ngay từ ngày 9/01/2026, Chủ tịch UBND tỉnh đã sớm ban hành Quyết định số 50/QĐ-UBND phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, khu vực II, khu vực III giai đoạn 2026-2030 làm cơ sở để triển khai thực hiện chính sách dân tộc. Tháng 3/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành văn bản chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 được kéo dài đến hết năm 2026. Yêu cầu các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án thành phần, hoàn thiện hồ sơ để giải ngân vốn kịp thời. Đối với các công trình đã hoàn thành, phải sớm nghiệm thu, bàn giao, quyết toán trước ngày 30/6/2026. Các dự án chuyển tiếp cần tập trung nguồn lực, bảo đảm chất lượng, phấn đấu đến hết tháng 6/2026 giải ngân đạt trên 80% kế hoạch và hoàn thành 100% kế hoạch vốn kéo dài trước ngày 31/12/2026. Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang cũng yêu cầu tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện nghiêm chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất. Các sở chuyên ngành chủ động phối hợp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai tại cơ sở,
Đối với việc triển khai nhiệm vụ giai đoạn 2026-2030 theo chỉ đạo của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, 6 tháng đầu năm nay, tỉnh Tuyên Quang đã chủ động kiện toàn Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG cấp tỉnh; Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành các nghị quyết về phân cấp quản lý, nguyên tắc phân bổ vốn và cơ chế hỗ trợ thực hiện chương trình; xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030... Sở Dân tộc và Tôn giáo được giao phối hợp xây dựng kế hoạch, đề xuất mục tiêu, nguồn vốn và tổ chức thực hiện các nội dung liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang phát biểu kết luận tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm của Sở tổ chức ngày 13/7/2026Ngày 29/6/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã ký Quyết định số 1160/QĐ-TTg về việc giao kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026 - 2030 của các chương trình mục tiêu quốc gia (đợt 1) cho các bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố. Theo Quyết định này, tỉnh Tuyên Quang được Thủ tướng Chính phủ giao 4.333,52 tỷ đồng, nhiều nhất trong 27 tỉnh, thành phố được giao vốn đợt 1. Đây là căn cứ để UBND tỉnh Tuyên Quang tổ chức thực hiện lập, phê duyệt, giao kế hoạch từng chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 358/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; bố trí đủ vốn ngân sách địa phương thực hiện từng chương trình theo quy định tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách địa phương thực hiện từng chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng thời, chủ động tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch theo đúng quy định của pháp luật đầu tư công và các quy định pháp luật có liên quan gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” và thực hiện các mục tiêu phát triển của giai đoạn 2026 - 2030.
Áp lực giải ngân số vốn chuyển tiếp từ giai đoạn 2021-2025 chuyển sang và số vốn mới được giao giai đoạn 2026-2030 đối với tỉnh Tuyên Quang là rất lớn. Vì vậy, tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình MTQG, trong thời gian tới, tỉnh Tuyên Quang sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cao hiệu lực chỉ đạo, điều hành; ưu tiên bố trí nguồn lực cho các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở...
Toàn bộ quá trình triển khai Chương trình MTQG 417 sẽ bám sát quan điểm phát triển nhanh, bền vững, lấy người dân làm trung tâm, phát huy nội lực cộng đồng, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh - đồng chí Đỗ Hùng Đức, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang khẳng định tại Hội nghị quán triệt, thúc đẩy triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi do Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì ngày 6/7/2026.
Đối với tỉnh Tuyên Quang, có thể khẳng định, nguồn vốn của Chương trình MTQG 1719 và 417 tiếp tục là nguồn lực quan trọng giúp địa phương hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tạo sinh kế và nâng cao đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn. Đồng vốn được giải ngân sớm ngày nào thì cơ hội phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hiện thực hóa sớm ngày đó. Xác định được điều đó, ông Lý Hải Vĩnh - Chủ tịch UBND xã Bắc Mê bày tỏ quyết tâm sau khi được Hội đồng nhân dân tỉnh phân bổ nguồn vốn, xã sẽ đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên đầu tư những dự án cấp thiết trên địa bàn. Đối với vốn sự nghiệp, xã sẽ chỉ đạo triển khai các mô hình phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò vàng để tạo động lực phát triển cho mỗi gia đình, mỗi thôn, bản và cho chính xã.
Quyết tâm này không chỉ của riêng xã Bắc Mê mà còn là quyết tâm chung của các xã trên địa bàn. Tuy nhiên, ngoài quyết tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương, để thúc đẩy nhanh quá trình đưa Chương trình MTQG 417 vào cuộc sống, tỉnh cũng kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; ưu tiên bố trí nguồn lực cho các địa phương còn nhiều khó khăn; đẩy mạnh lồng ghép các chương trình, dự án, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện Chương trình ở cơ sở.
Chương trình MTQG 1719 đã tạo nền tảng quan trọng để Tuyên Quang bắt tay vào thực hiện Chương trình MTQG 417 trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh khối lượng công việc sau khi hợp nhất là rất lớn, phạm vi đối tượng và nội dung quản lý rộng, bao quát nhiều lĩnh vực phức tạp trên địa bàn toàn tỉnh càng đòi hỏi quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, vừa phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2026, vừa tạo nền tảng vững chắc cho năm 2027 và cả giai đoạn 2026-2030, vì sự phát triển bền vững, bao trùm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh nói riêng, cả nước nói chung.