Lớn lên giữa đại ngàn, A Neng đã quen thuộc với tiếng cồng chiêng vang vọng trong mỗi mùa lễ hội. Những âm thanh của rừng núi, tiếng chim gọi bầy, tiếng nước chảy qua ghềnh đá, dần trở thành một phần ký ức. Mỗi dịp làng mở hội, cậu bé A Neng theo chân người lớn đến nhà rông, say sưa dõi theo các nghệ nhân trong trang phục truyền thống biểu diễn cồng chiêng giữa không gian linh thiêng.
Dù gia đình không ai biết đánh chiêng, A Neng vẫn tìm mọi cách để được học. Cậu thường sang nhà bạn bè, nơi có cha hoặc ông là thành viên đội chiêng của làng, để xem họ luyện tập. Những buổi tập kéo dài, những ngày chuẩn bị lễ hội, A Neng luôn có mặt, lặng lẽ ghi nhớ từng nhịp chiêng, từng động tác. Khi các nghệ nhân nghỉ tay, A Neng và đám trẻ lại rụt rè chạm vào những chiếc chiêng, nuôi trong lòng ước mơ một ngày được đứng vào đội chiêng như người lớn.
Thấy lũ trẻ say mê, các già làng và nghệ nhân không ngần ngại chỉ bảo. Nhờ sự kèm cặp ấy, đến năm 15 tuổi, A Neng đã đánh chiêng thành thạo và được tham gia đội cồng chiêng của làng. Từ đó, tiếng chiêng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của ông.
Năm 1983, ông quyết định đổi một con bò để sở hữu bộ cồng chiêng từ làng Chung Tam (xã Măng Ri). Ngày mang chiêng về treo lên vách nhà, ông nâng niu như báu vật. Với A Neng, đó không chỉ là tài sản mà còn là niềm tự hào và giấc mơ đã thành hình.
Có bộ chiêng trong nhà, ông bắt đầu tập hợp thanh thiếu niên trong làng đến học. Với ông A Neng, giữ âm thanh của đại ngàn không phải là cất chiêng vào chỗ cao hay treo đàn trên vách nhà, mà là làm cho những thanh âm ấy tiếp tục được vang lên trong đời sống hôm nay. Ông hiểu rằng, nếu chiêng chỉ nằm im trong góc nhà, không được đánh lên, không được người trẻ học và chơi, thì sớm muộn cũng sẽ rơi vào quên lãng.
Bởi vậy, từ khi có bộ cồng chiêng trong tay, ông A Neng chủ động gọi trẻ em, thanh thiếu niên trong làng đến học. Không lớp học, không giáo trình, việc truyền dạy diễn ra tự nhiên ngay trong không gian sinh hoạt thường ngày. Những đêm trăng sáng, lũ trẻ quây quần bên ông, vừa nghe kể chuyện, vừa học cách cầm dùi, cách cảm nhịp, cách lắng nghe tiếng chiêng của nhau để hòa thành một chỉnh thể. Ông dạy các em không chỉ cách đánh chiêng đúng nhịp, mà còn dạy cách giữ chiêng như giữ một phần hồn của làng.
Với sự kiên nhẫn của một người đã gắn bó cả đời với âm nhạc truyền thống, ông chỉnh từng nhịp chiêng, nhắc từng động tác tay, chậm rãi để lũ trẻ nghe và tự cảm nhận. Những em mới học còn lúng túng, đánh chưa đều, ông không thúc giục mà để các em tập dần, quen dần với nhịp điệu. Theo thời gian, tiếng chiêng non nớt ban đầu trở nên vững vàng hơn, hòa quyện hơn.
Nhiều em sau khi được ông truyền dạy đã tự tin tham gia đội cồng chiêng của trường, của xã, góp mặt trong các dịp lễ hội, sinh hoạt cộng đồng. Có em tuy không theo đuổi lâu dài, nhưng tiếng chiêng đã trở thành ký ức đẹp của tuổi thơ, giúp các em hiểu và trân trọng hơn văn hóa của dân tộc mình. Với ông A Neng, chỉ cần âm thanh ấy còn được nhớ, được đánh lên trong những dịp quan trọng của làng, thì việc “giữ” đã có ý nghĩa.
Ông Võ Sỹ Chung, Bí thư Đảng ủy xã Măng Ri, chia sẻ rằng, ông A Neng đã có những đóng góp đáng kể trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa Xơ Đăng. Ông không chỉ kiên trì truyền dạy cồng chiêng cho các thế hệ trẻ mà còn giúp nhạc cụ truyền thống gần gũi hơn với cộng đồng. Hiện nay, xã đã xây dựng nhiều hoạt động phối hợp với ông trong các hoạt động du lịch cộng đồng, để tiếng chiêng, tiếng đàn nơi đại ngàn được giữ gìn và tiếp tục lan tỏa.
Giờ đây, mỗi khi tiếng chiêng, tiếng đàn t’rưng, klông pút vang lên giữa núi rừng Tê Xăng, trong đó không chỉ có bàn tay của một nghệ nhân, mà còn có sự tiếp nối của nhiều thế hệ. Âm thanh đại ngàn vì thế không bị đứt đoạn, mà được gìn giữ bằng sự kiên trì, lặng lẽ của một người cả đời nặng lòng với văn hóa dân tộc mình.