Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Bác ái - Giá trị tinh thần của Ki-tô giáo

TS. Nguyễn Thị Thu Trà, Trường Đại học Nội vụ - 09:57, 27/02/2026

(DTTG) - “Bác ái” là cốt lõi của hệ giá trị tinh thần Ki-tô giáo. “Phúc âm hóa” có nghĩa là hiện thực hóa “bác ái” trong quan hệ giữa người với người, như tấm gương Chúa Ki-tô đã yêu thương loài người, bất chấp tội lỗi của họ.

Tóm tắt: Trong thế giới hiện đại đang có nguy cơ bị sa vào vòng kiềm tỏa của những đam mê phàm tục, bị “pháp chấp” dẫn tới những bi kịch, những vấn nạn hiện sinh đe dọa thủ tiêu bản chất của loài người - Nhân tính, việc đưa tư tưởng “bác ái” của Ki-tô giáo vào đời sống nhân loại có ý nghĩa thật sự cấp bách. Thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi phải làm rõ thực chất của “bác ái” và giá trị phổ độ toàn thể của nó, sự tương đồng của nó với truyền thống văn hóa, tín ngưỡng Việt.

Từ khóa: Bác ái; giá trị tinh thần; Ki-tô giáo


1. Bác ái là cốt lõi của hệ giá trị tinh thần Ki-tô giáo

Trước hết cần nhấn mạnh rằng, “bác ái”của Ki-tô giáo có quan hệ với nhân cách của con người trên phương diện tự do tinh thần. Nó đòi hỏi quan hệ giữa người với người “đối nhân” phải căn cứ trên tình yêu, trên thái độ đối với tha nhân như giá trị thánh thiêng “hình ảnh và sự tương tự của Chúa”, được giải phóng khỏi những tính toán vụ lợi và vị kỷ, khỏi quan niệm về tha nhân chỉ như phương tiện nhằm đạt tới mục đích phàm tục của bản thân. “Bác ái” xuất phát từ sự thật rằng, con người luôn nằm giữa “thú tính” và “nhân tính” (thần tính, tính thánh thiện), sự sống con người là cuộc đấu tranh liên tục và căng thẳng giữa hai bản tính này. Do vậy, biện chứng của hiện sinh người thể hiện qua khả năng vươn lên thánh thiện hoặc là rơi xuống thú tính, vươn lên cao cả hoặc là rơi xuống hèn hạ, biết yêu thương và hy sinh vì tha nhân, vị tha hoặc là tàn nhẫn, vị kỷ, thù hận vô độ. “Bác ái” chính là cứu cánh đưa con người vượt lên trên thú tính, trở thành bản ngã tinh thần, thánh thiêng giống như Ngôi Hai Thiên Chúa đã tự mình vác khổ giá mình và thủ tiêu tất cả mọi tội lỗi mình để phục sinh cùng với bản chất tinh thần tinh tuyền, thánh thiện, qua đó trở thành tấm gương vươn lên sự cao cả nhằm chứng tỏ sứ mệnh cao quý của con người, tất cả những gì đẹp đẽ và cao thượng có trong bản tính người.

Để giúp con người vượt qua những cám dỗ, tránh khỏi những sự dữ (thú tính), Chúa Ki-tô đã rao giảng tôn giáo “tình yêu tha nhân”, tức là “bác ái”, không bị cầm tù bởi Vật đạo. Vật đạo là con đường theo đuổi vật chất, phát triển các vật thể vật chất, qua đó bị ràng buộc, phụ thuộc vào những giá trị thuần túy vật chất, do vậy Vật đạo chủ yếu biểu thị “con đường thế gian”. Tất cả những gì thuộc về Vật đạo được Ki-tô giáo gọi là “nước thế gian”, nó bao gồm tiền tài, cơm áo, danh vọng, tiện nghi, quyền chức, dục tình,... hay nói vắn tắt là “danh, lợi, tình, quyền”, chính là lũ quỷ satan luôn hiện diện và ẩn náu ở trong tâm mỗi con người chúng ta, luôn cám dỗ chúng ta, luôn làm cho chúng ta bị sa ngã, bị phạm tội, làm những sự dữ, đánh mất lương tâm mình. Trái ngược với Vật đạo, toàn bộ lịch sử Thánh Kinh trần thuật con đường đưa dân Chúa dần dần hướng tới Linh đạo, “cách tân tâm mình”, trừ bỏ những cám dỗ và quỷ dữ, toàn bộ Tân ước ghi chép lại Tin mừng của Chúa Ki-tô, đều hướng tín đồ mình tới Linh đạo như con đường ngược chiều với con đường thế gian. Do vậy, Linh đạo Ki-tô giáo (hay Nước Trời, Nước Thiên Chúa) hoàn toàn trái ngược với “nước thế gian”. Chính Chúa Jesus Kitô đã khẳng định sự thật hiển nhiên này trước mặt Tổng trấn Philato tại Jerusalem: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nước tôi mà thuộc về thế gian này, ắt tôi đã có bộ hạ để nghênh chiến, không để tôi bị nộp người Do Thái. Ấy vậy, Nước tôi không thuộc về thế gian này”1.

Nước của Chúa Jesus Ki-tô không thuộc về thế gian này có nghĩa là nó không bao gồm những thực tại thường biến như tiền tài, cơm áo, danh vọng, tiện nghi, quyền chức, dục tình,... “danh, lợi, tình, quyền”. Nước của Người là Nước Trời, Nước của sự thật thường hằng, là Nước siêu nhiên, Nước tinh thần. Chúa Jesus Ki-tô giáng thế làm người để làm chứng cho sự thật ấy. Vì vậy, Người nói với tổng trấn Philato: “Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi”2. Như vậy, tất cả những lời rao giảng của Chúa Jesus Ki-tô đều biểu thị Linh đạo, con đường dẫn tới cội nguồn chân lý, con đường tâm linh hướng nội. Những gì do con đường tâm linh này khám phá ra mới chính là sự thật đích thực, thường hằng. Những gì thuộc về Vật đạo chỉ là những sự thật tầm thường thuộc về cõi vô thường, thường biến. Từ đây chúng ta có thể nhận thấy rõ những nội dung cơ bản, độc đáo của Linh đạo Ki-tô giáo mà cốt lõi chính là “bác ái” (tình yêu tha nhân).

Chức sắc Công giáo trao quà đến bà con trong dịch Covid - 19
Chức sắc Công giáo trao quà đến bà con trong dịch Covid - 19

Như vậy, “bác ái” là con đường duy nhất để con người được cứu rỗi khỏi “Vật đạo”, vượt lên trên vật tính và thú tính hiện diện trong bản tính mình để hướng tới và đạt tới thần tính (Thiên Chúa). Nói cách khác, “bác ái” cho phép con người phát triển nhân cách mình như thực thể tinh thần trong quan hệ với các nhân cách khác, qua đó đem lại tự do tinh thần cho con người, cứu rỗi con người khỏi tình trạng nô lệ tinh thần vào những thứ không thuộc về bản chất người “vương quốc tinh thần” (Nước Chúa, Hội thánh).

Để hướng con người đến nhân cách hoàn hảo, Ki-tô giáo xây dựng chủ nghĩa nhân cách theo đúng nghĩa của từ này, tức là hình ảnh lý tưởng của bản tính người. Nhân cách Ki-tô bao hàm tất cả những gì tốt đẹp nhất có thể có ở mỗi người nói riêng và loài người nói chung, qua đó nó đem lại bản nguyên tinh thần (“Lời”, tức là những giá trị nhân văn cao cả), sức mạnh tinh thần cho con người. Nhân cách con người hợp nhất sự sống tinh thần, tâm thần và thể xác, giống như tình yêu của Mẹ nuôi dưỡng đứa con mình trở thành người con tốt đẹp (“sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”). Nhân cách hướng con người lên Thiên Chúa để con người hoàn thiện mình, hướng con người đến với tha nhân cùng với tình yêu tinh tuyền để con người tìm kiếm sự tốt đẹp nơi mình. Nói cách khác, nhân cách biểu thị nhân tính toàn vẹn của con người bộc lộ qua tinh thần, tâm thần và thể xác (hành vi). Nhân cách cá nhân đòi hỏi bác ái như phương thức nhân tính mình, giúp cho con người thoát khỏi tình trạng bị nô lệ vào những cái không thuộc về nhân tính nó (“nước thế gian”, những cái phàm tục, “pháp và ngã”) và hướng tới tự do tinh thần3.

Người có nhân cách trong sáng nhất và người tự do tinh thần nhất chính là Chúa Ki-tô. Chúa Ki-tô là người tự do nhất trong số những người tự do, Ngài tự do đối với thế gian bởi Ngài chỉ gắn bó với bác ái và Ngài là cội nguồn bác ái. Do đó thế gian không thể nô dịch Ngài và Ngài cũng không là ông chủ của thế gian (“Nước tôi không thuộc về thế gian này”). Để có tự do tinh thần, con đường tốt nhất và duy nhất là bác ái do Chúa Ki-tô và các tông đồ đã rao giảng, càng ngày càng được các thánh giáo hội, các giáo phụ và các nhà hộ giáo khai mở sâu sắc. Bác ái lấp đầy linh hồn con người bằng tình yêu dành cho Thiên Chúa và lấy đó làm điểm tựa cho tâm hồn định hướng hành động trong quan hệ với tha nhân. Như vậy, bác ái là con đường dẫn tới tự do tinh thần, vì nó giữ lại tâm thần con người, sự sống con người trong không gian của tình yêu con người.

Tin và yêu Chúa sẽ tạo ra không gian hiện sinh như vậy và qua đó cũng giải phóng con người khỏi việc thờ ngẫu tượng, làm cho cuộc sống trở nên thánh thiêng, chấm dứt tình cảnh làm nô lệ cho những thứ không thuộc về nhân tính con người. Khi đó, Chúa không còn xa lạ, mà hiện hữu, lấp đầy tâm hồn con người, hướng sự sống con người về phía thánh thiêng. Mặt khác, Chúa tạo thành con người và trao cho nó sự sống, do vậy mỗi người đều là hình ảnh của Chúa, còn Chúa không phải là ông chủ của con người và con người không là nô lệ của Chúa. Hơn nữa, Chúa là đấng toàn thiện, do vậy Ngài là chuẩn mực để mỗi người vươn lên hoàn thiện nhân cách mình. Do vậy, yêu Chúa là yếu tố đầu tiên trong việc thánh hóa sự sống, tạo ra tự do tinh thần cho cá nhân, tôn trọng nhân cách của tha nhân, mở đầu cho việc đến với tha nhân trong tình bác ái và từ đó là đến với tự do. Tin và yêu Chúa còn cho thấy con người vô cùng bé nhỏ trước mặt Chúa và mọi người đều bằng đẳng trước Chúa. Quan hệ “đối thần” này làm cho con người nhận thấy nhân cách mình hết sức nhỏ bé trước Chúa, từ đó họ từ bỏ thói kiêu ngạo như nguồn gốc của mọi sự ác trên thế gian.

2. Bác ái trong quan hệ với tha nhân

“Bác ái” trong quan hệ với tha nhân trước hết đòi hỏi phải tôn trọng sở hữu của cải của họ, điều này sẽ giải phóng con người khỏi cám dỗ vật chất làm mờ đi nhân cách tốt đẹp của mình. Theo Ki-tô giáo, của cải thế gian có nguồn gốc từ Chúa, mọi người đều có phần và có quyền dùng sức lực và trí tuệ mình tham dự vào công trình sáng tạo của Chúa để lấy ra của cải vật chất phục vụ và thăng tiến bản thân, nhưng không được quên phần của những người yếu thế, gặp rủi ro trong việc tự lấy ra phần của cải của mình. Của cải của mỗi người đang có là phần Chúa ban cho họ, thông qua mồ hôi công sức của họ, nếu chiếm đoạt trái phép tắc là phạm Luật Chúa, phạm lỗi với người. Không phạm Luật Chúa, không phạm lỗi với người về của cải có nghĩa là tự do hướng lên Chúa để hoàn thiện bản thân, hướng đến tha nhân bằng nhân cách tốt đẹp. Tôn trọng quyền sở hữu tài sản mang lại sự tự do, tự tin để đến với người bởi sự trong sáng trong tinh thần có được do không bị che mờ bởi ham muốn. “Bác ái” thúc giục con người chỉ nên hưởng dụng vừa đủ những gì Chúa ban cho mình, phần còn lại trao về cho người đói lạnh trong mối tình bác ái cao cả như Chúa Ki-tô dạy “hãy tích lấy kho tàng ở trên Trời”. Như vậy, với “bác ái” trong quan hệ với tha nhân về tài sản, con người trở nên tự do trong công chính trước Chúa và tha nhân.

“Bác ái” trong quan hệ với tha nhân còn đòi hỏi con người phải tôn trọng sự thật để không bị sa vào dối trá, đạo đức giả, để hướng tới sự sống thánh thiện. Sự thật bắt nguồn từ Chúa và tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý muốn, sở thích của bất kỳ ai. Sự gian trá không bắt nguồn từ Chúa, mà sinh ra từ sa ngã của con người do bị cám dỗ, sự gian trá xuất phát từ yếu tố “cát bụi” trong người. Cúi đầu vâng phục Chúa chính là biểu hiện khác của thụ tạo muốn hoàn thiện nhân cách mình. Tôn trọng sự thật còn là phương thức gạt bỏ những dối trá trong quan hệ với tha nhân, thanh tẩy nhân cách mình, giải phóng tinh thần con người khỏi nô lệ cho cái ác, cái gian dối.

3. Kết luận

Nhìn lại văn hóa Việt, chúng ta thấy có nhiều điểm tương đồng giữa “bác ái” và những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc ta, “bác ái” có thể làm giàu, bổ sung cho văn hóa Việt. Nếu truyền thống Tam giáo tại Việt Nam cần phải học, cầu đạo để tu thân tích đức, thì Ki-tô giáo bổ sung cho văn hóa Việt những giáo lý đơn giản, dễ nghe, dễ hiểu. Ki-tô giáo thâm nhập và có khả năng đồng hành với nhiều tầng lớp Nhân dân. Đức tin Ki-tô giáo có thể xâm nhập vào văn hóa Việt vì “Thánh” của người Việt tương đồng rất lớn với “Thánh” trong Kinh Thánh. “Bác ái” của Ki-tô giáo còn tương đồng sâu sắc hơn nữa với văn hóa Việt. Một trong các giá trị tinh thần quan trọng nhất của người Việt là “hiếu”, là tinh thần hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, Tổ tiên. Từ nguồn cội, “hiếu” luôn là một nền tảng cho đạo làm người của người Việt và là một trong những thành tố quan trọng nhất của văn hóa Việt. Do vậy Ki-tô giáo vào Việt Nam mang theo tinh thần thảo kính với cha mẹ, hai bên đã tạo ra được sự tương đồng và khả năng hòa nhập vào nhau rõ nét. Trong Ki-tô giáo, “hiếu” là yếu tố căn bản trong luân lý Ki-tô giáo, nằm ngay trong 10 điều răn. “Hiếu” chỉ đứng sau lời răn “tôn kính Chúa”. Trong quan hệ với tha nhân, người Việt luôn lấy tinh thần đoàn kết lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm bọc lá rách nhiều, làm điều thiện hảo, điều này tương đồng với quan điểm yêu thương tha nhân của Ki-tô giáo. Hồ Chí Minh sớm nhận thấy sự tiến bộ và những nét tương đồng giữa “bác ái” của Ki-tô giáo với văn hóa Việt. Ngay từ khi giành độc lập, Người đã có những nhận định chính xác về giá trị của “bác ái” và tạo điều kiện cho Ki-tô giáo phát huy tư tưởng bác ái của mình. Người viết: “Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”4. Như vậy, từ rất lâu, Hồ Chí Minh đã khẳng định “bác ái” là giá trị nhân văn, phù hợp với đạo đức xã hội ta. Hơn nữa, Người còn chỉ ra những nét tương đồng vì mục đích phục vụ dân của các vĩ nhân. Người viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”5. Hồ Chí Minh đã nhận ra và đề cao kết quả của việc đưa “bác ái” vào cuộc sống Việt, vì “bác ái” sẽ mang lại hạnh phúc cho con người, mang lại phúc lợi cho xã hội ta. Người bày tỏ quan điểm học tập tinh thần “bác ái” và dành cho Chúa Ki-tô những lời tốt đẹp: “Suốt đời Ngài chỉ hy sinh phấn đấu cho tự do dân chủ. Từ ngày Ngài giáng sinh đến nay đã gần 2.000 năm, nhưng tinh thần bác ái của Ngài chẳng những không phai nhạt, mà còn tỏa ra khắp, thấm vào đã sâu”6 .

Chú thích:

1. Ga: 18,36.

2. Ga: 18,37.

3. Xem N.A. Berdyaev, Con người trong thế giới tinh thần, trải nghiệm triết học cá biệt luận, Nguyễn Văn Trọng dịch, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2015, tr. 52.

4. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 5. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.225.

5. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, tr. 152.

6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 121.

Tài liệu tham khảo:

1. Xem N.A. Berdyaev, Con người trong thế giới tinh thần, trải nghiệm triết học cá biệt luận, Nguyễn Văn Trọng dịch, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2015, tr. 52.

2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 5. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.225.

3. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, tr. 152.

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 121.

5. Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo, Huy Thông tuyển chọn và giới thiệu, Nxb. Chính trị Quốc gia 2004, tr.41.