Từ khóa: Nhân quyền; Quyền của người dân tộc thiểu số; Công ước CERD.
Chính quyền, gia đình và xã hội luôn dành sự quan tâm đặc biệt để trẻ em dân tộc thiểu số có cơ hội phát triển toàn diện1. Chính sách đối nội
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Từ Đại hội Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), Đảng đã đề ra Nghị quyết về công tác trong các DTTS. Nghị quyết nhấn mạnh: “Đảng Đại hội xét rằng lực lượng tranh đấu của các DTTS là một lực lượng rất lớn”… và “sự miệt thị công tác trong các DTTS là một lầm lỗi chính trị rất to lớn” [3]…
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Đảng chỉ rõ: “Các dân tộc trên đất nước Việt Nam được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc. Kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây chia rẽ dân tộc của đế quốc và bè lũ tay sai. Cải thiện đời sống đồng bào, giúp họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục địa phương thiểu số”.
Bước vào thời kỳ Đổi mới, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 27/11/1989 “Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi”. Sau 15 năm thực hiện, trên cơ sở nhận định sâu sắc tình hình trong nước, thế giới, tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và giải quyết quan hệ dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 12/3/2003, Hội nghị lần Thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trong Nghị quyết này, Ban Chấp hành Trung ương đề ra các quan điểm: (i) Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. (ii) Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. (iii) Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN); Gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; Thực hiện tốt chính sách dân tộc; Quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc; Giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các DTTS trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. (iv) Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng đồng bào DTTS&MN; Trước hết, tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo; Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; Phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. (v) Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
Đối với Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới, Đảng ta đã hai lần tiến hành tổng kết. Lần đầu năm 2009, sau đó, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 57-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW. Lần tổng kết thứ hai năm 2019, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW.
Đến Đại hội XIII (tháng 01/2021), Đảng khẳng định chủ trương, đường lối giai đoạn 2021-2025 là: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giải quyết những khó khăn của đồng bào DTTS. Tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030. Bảo vệ và phát triển dân số các DTTS có dưới 10.000 người, đặc biệt là những DTTS có nguy cơ suy giảm giống nòi” [4].
Hệ thống các quan điểm, đường lối công tác dân tộc của Đảng là cơ sở chính trị, mục tiêu, căn cứ để Nhà nước thể chế trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật quy định về các chính sách dân tộc. Một số văn bản pháp quy tiêu biểu, có ý nghĩa “lần đầu tiên” đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, gồm: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc (Ngày 10/10/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi trong triển khai, thực hiện, thụ hưởng chính sách dân tộc); Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc hội thực hiện Khoản 5 Điều 70 Hiến pháp 2013 quyết định chính sách dân tộc với việc ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án Tổng thể, Nghị quyết số 120/QH15 phê duyệt chủ trương, làm căn cứ để Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có Chương trình Mục tiêu quốc gia dành riêng cho vùng đồng bào DTTS&MN, tạo cơ hội mới để vùng đồng bào DTTS&MN phát huy nội lực, phát triển toàn diện, bền vững.
Chính sách đối nội mà mục tiêu cuối cùng là nhằm bảo đảm quyền của người DTTS luôn nhất quán trong chủ trương, đường lối của Đảng, được thể chế trong các văn bản pháp quy của Nhà nước, kết hợp với huy động các tổ chức chính trị - xã hội và đồng bào các DTTS cùng tham gia thực hiện là những nhân tố quyết định để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng của Việt Nam. Một trong những đặc trưng của xã hội đó là: “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển” như phân tích của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhân kỷ niệm 131 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
2. Chính sách đối ngoại
Quyền của người DTTS là quyền rất căn bản mà các nhóm DTTS ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng, được chính thức ghi nhận trong hai Công ước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp quốc năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Hiện nay, Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia 7/9 công ước quốc tế liên quan đến quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) liên quan trực tiếp đến quan hệ giữa các dân tộc. Ra đời năm 1965, Công ước CERD lên án nạn phân biệt chủng tộc và xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, màu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.
Tham gia Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc từ năm 1982, Việt Nam có cơ hội giúp bạn bè quốc tế có cái nhìn đúng đắn, đánh giá, nhận định khách quan về chủ trương, đường lối công tác dân tộc và những thành tựu đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc; Đồng thời đón nhận những tri thức quốc tế để xem xét vận dụng vào quá trình hoạch định chính sách dân tộc phù hợp với thực tiễn của đất nước. Tham gia Công ước cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam phải thực hiện các nghĩa vụ phù hợp với cơ chế của Công ước như: Nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền của người DTTS phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống lịch sử, văn hóa; Đảm bảo tiến bộ thực sự về nhân quyền cho mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt chủng tộc, dân tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, chính kiến, nguồn gốc xuất thân…; Định kỳ thực hiện Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước; Thực hiện các khuyến nghị, trả lời kháng thư về quyền con người; Triển khai các hoạt động giáo dục, thông tin về quyền con người và một số thủ tục khác theo yêu cầu của Ủy ban CERD (Lê Văn Lợi, 2020).
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo quyền của người DTTS ở Việt Nam không tách rời các hoạt động giám sát quốc tế từ các cơ quan của Liên Hợp quốc, của các điều ước quốc tế về quyền con người. Tham gia Công ước, Việt Nam chấp nhận sự giám sát quốc tế về quyền của người DTTS thông qua các hình thức: Xem xét báo cáo quốc gia theo cơ chế đánh giá định kỳ; Thực hiện các thủ tục đặc biệt nhằm điều tra, đánh giá các vấn đề, tình huống về quyền con người cụ thể; Đưa ra các bình luận, khuyến nghị đối với Việt Nam liên quan trực tiếp đến các quyền của người DTTS… “Sức ép” từ các hoạt động giám sát này đã có nhiều tác động đến đảm bảo quyền con người nói chung, quyền của các DTTS nói riêng, thể hiện ở các mặt: nâng cao nhận thức đảm bảo quyền; Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, cơ chế; Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu; Thúc đẩy các hoạt động đối thoại và đấu tranh về nhân quyền tại các diễn đàn quốc tế (Lê Văn Lợi, 2020). Ở cấp độ song phương, Việt Nam hiện có cơ chế Đối thoại nhân quyền chính thức với 5 đối tác: Mỹ, EU, Thuỵ Sĩ, Na Uy và Australia. Xây dựng và thúc đẩy đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền có ý nghĩa tích cực, góp phần nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng với các đối tác quốc tế trong vấn đề quyền con người. Qua đối thoại cũng bác bỏ những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các nhóm, cá nhân cực đoan trong và ngoài nước về tình hình quyền con người nói chung, quyền của người DTTS ở Việt Nam nói riêng.
Trong lĩnh vực nhân quyền “ hiện vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa lực lượng tiến bộ nhằm phát huy những giá trị cốt lõi thuộc về con người với các thế lực lợi dụng nhân quyền để thực hiện ý đồ chính trị” [8]. Đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền nói chung, quyền của người DTTS nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là khi một số lực lượng chính trị, xã hội quốc tế sử dụng nhân quyền như một công cụ để thực hiện các cuộc “cách mạng màu” nhằm lật đổ các chế độ xã hội mà họ coi là “không phù hợp” với quan điểm của họ. Và “vấn đề dân tộc và tôn giáo luôn là mảnh đất, là lĩnh vực mà các thế lực thù địch tìm cách khai thác, lợi dụng, lôi kéo để chống phá Đảng và Nhà nước” (Đào Ngọc Dung, 2025). Tuy nhiên, về lý luận và thực tiễn, việc thực hiện dân chủ và quyền con người tùy thuộc vào nhiều điều kiện. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau không thể lấy quan niệm, thực tiễn của nước này, của dân tộc này về dân chủ và quyền con người để áp đặt lên dân tộc khác, nước khác. Với các giá trị nhân quyền phổ biến thì cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này còn nhằm bảo vệ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các thành viên Liên Hợp quốc.
Đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ các quan điểm của Đảng, Nhà nước về quyền con người, bảo vệ các thành quả về quyền con người mà nhân dân nói chung, cộng đồng các DTTS Việt Nam nói riêng đã đạt được trong hơn 9 thập niên qua; Kiên quyết chống lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của một số thế lực thù địch nhằm lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị, xã hội ở vùng đồng bào DTTS&MN, làm suy giảm lòng tin của đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước…
Thực hiện Công ước CERD, Chính phủ Việt Nam đã giao Ủy ban Dân tộc trước đây, nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng báo cáo quốc gia và tổ chức bảo vệ tại Ủy ban Công ước CERD. Việt Nam đã 5 lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 2012 và 2023. Báo cáo tập trung thể hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD, cụ thể là các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người DTTS tại Việt Nam; Định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; Vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Kết quả thực hiện các cam kết cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của người DTTS tại Việt Nam; Các biện pháp đảm bảo cho người DTTS ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân biệt chủng tộc nào. Bên cạnh đó, Việt Nam tích cực tham gia các phiên đối thoại với các Ủy ban Công ước và nghiêm túc xem xét các khuyến nghị, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch triển khai tăng cường thực thi các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3. Kết luận
Thừa nhận và bảo đảm quyền con người là một chỉ báo đánh giá sự phát triển văn minh, tiến bộ của mỗi xã hội, là cơ sở để Nhà nước ghi nhận và đảm bảo quyền cho người dân (Nguyễn Thị Thanh Hải, 2022). Đồng bào các DTTS là chủ thể, động lực, mục tiêu, trung tâm của mọi chính sách dân tộc - những quan điểm đúng đắn đó của Đảng được thể hiện sâu sắc trong các chính sách đối nội và đối ngoại về quyền con người. Đây là biểu hiện rõ nét trong bước phát triển tư duy, về tầm nhìn, cách tiếp cận cùng quan điểm, hành động nhất quán của Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy quyền của người DTTS.
Tài liệu tham khảo
1. Đào Ngọc Dung (2025). Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển, truy cập tại:
https://baochinhphu.vn/bao-dam-cac-dan-toc-binh-dang-doan-ket-tuong-tro-cung-phat-trien-102251012181418286.htm
2. Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc (2013). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc (2013). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.15.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 140-141.
5. Lê Văn Lợi (2020). Đánh giá và đề xuất bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
6. Nguyễn Phú Trọng (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, truy cập tại:
https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam
7. Nguyễn Phú Trọng (2023). Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
8. Võ Công Khôi (2023). Nhận diện các chiêu bài can thiệp khoác áo nhân quyền, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 4 (32), tr. 3.