Từ khóa: Bảo tồn và phát huy; Giá trị văn hóa truyền thống; Đồng bào dân tộc thiểu số; Bảo vệ môi trường.
Lực lượng kiểm lâm và đồng bào dân tộc thiểu số tham gia Tết trồng cây1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu gia tăng, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) gắn với bảo vệ môi trường (BVMT) trở thành yêu cầu cấp thiết, vừa mang ý nghĩa nhân văn, vừa có giá trị chiến lược. Không gian văn hóa địa phương của đồng bào DTTS vốn gắn liền với tri thức sinh thái, tập quán canh tác bền vững và hệ thống tín ngưỡng tôn trọng tự nhiên. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, khai thác tài nguyên quá mức và sự xâm nhập của lối sống hiện đại đang đặt những giá trị này trước nguy cơ mai một. Do đó, nghiên cứu mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa truyền thống và môi trường không chỉ giúp nhận diện những thách thức hiện hữu mà còn mở ra định hướng chính sách nhằm phát triển bền vững, đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn văn hóa và gìn giữ hệ sinh thái.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận về bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường
Từ góc độ phát triển bền vững, văn hóa được xem là trụ cột thứ tư bên cạnh kinh tế - xã hội và môi trường. Bảo tồn văn hóa truyền thống không thể tách rời BVMT, bởi hệ thống môi trường tự nhiên chính là không gian tồn tại và nuôi dưỡng văn hóa.
Cách tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân trong quản lý tài nguyên. Đối với đồng bào DTTS, các thiết chế truyền thống như già làng, phong tục, luật tục là nền tảng quan trọng của quản trị môi trường. Vì vậy, bảo tồn văn hóa phải đi liền với việc trao quyền cho cộng đồng, tôn trọng tri thức địa phương và tạo cơ chế để người dân tham gia trực tiếp vào các chương trình BVMT.
2.2. Thực trạng giá trị văn hóa truyền thống và môi trường ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) là một khu vực đặc thù, chiếm tỷ lệ lớn về đất đai (3/4 diện tích cả nước), tuy nhiên, lại chiếm tỷ lệ thấp về dân số, đây là vùng có nhiều giá trị, bản sắc văn hóa độc đáo thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa con người với tự nhiên của đồng bào DTTS.
Thực trạng văn hóa truyền thống và môi trường ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) hiện nay cho thấy sự đan xen giữa những giá trị còn được duy trì bền vững và những yếu tố đang đứng trước nguy cơ suy giảm mạnh dưới tác động của biến đổi xã hội, sinh thái. Trước hết, hệ giá trị văn hóa truyền thống vẫn tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong đời sống cộng đồng. Nhiều nghi lễ nông nghiệp, kiêng kị, luật tục và sinh hoạt văn hóa dân gian của người Tày, Thái, Mông, Dao, Ê-đê, Ba na, Cơ-tu… vẫn được lưu giữ và thực hành trong đời sống thường nhật. Những yếu tố này không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn chứa đựng tri thức địa phương quan trọng liên quan đến sử dụng tài nguyên và BVMT. Chẳng hạn, tục cúng rừng thiêng, quy định không săn bắt trong mùa sinh sản của chim, thú rừng, hay các quy tắc bảo vệ suối nguồn của người Tây Nguyên… tạo nên cơ chế tự quản bền vững, góp phần duy trì cân bằng sinh thái.
Tuy vậy, nhiều giá trị văn hóa gắn với môi trường đang phải đối mặt với hiện tượng đứt gãy truyền nối. Một phần nguyên nhân xuất phát từ sự xâm nhập sâu của kinh tế thị trường, dẫn đến thay đổi sinh kế, thay đổi mô hình cư trú và biến đổi vai trò của thiết chế cộng đồng truyền thống. Sự suy giảm vai trò của luật tục, một công cụ quan trọng trong quản lý tài nguyên trước đây. Trong khi đó, quá trình di cư lao động của thanh niên tạo ra khoảng trống thế hệ trong thực hành tri thức địa phương, khiến nhiều kiến thức về phân loại rừng, chọn giống, xác định mùa vụ hay tổ chức lễ hội có nguy cơ mai một nhanh chóng.
Về phương diện môi trường tự nhiên, các vùng đồng bào DTTS&MN đang chịu áp lực lớn từ khai thác tài nguyên quá mức và biến đổi khí hậu. Nhiều địa phương ghi nhận diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp đáng kể do khai thác gỗ, chuyển đổi đất rừng sang mục đích nông nghiệp, thuỷ điện hoặc các dự án hạ tầng. Sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn khiến nguồn nước bị cạn kiệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế truyền thống như lúa nước, nương rẫy và chăn nuôi bán tự nhiên. Tình trạng xói mòn đất, lũ quét, hạn hán kéo dài trở nên phổ biến hơn, làm suy yếu nền tảng sinh thái vốn nuôi dưỡng văn hóa địa phương.
Song song với đó, quá trình thương mại hóa văn hóa, nhất là trong lĩnh vực du lịch, cũng đặt ra những vấn đề nổi cộm. Nhiều lễ hội được tổ chức mang tính trình diễn, tách khỏi không gian thiêng vốn có; Trang phục truyền thống bị biến đổi theo thị hiếu thị trường; Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có xu hướng giản lược kỹ thuật truyền thống để tăng tính thương mại. Những biến đổi này làm giảm giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời làm giảm mối liên hệ giữa văn hóa và môi trường tự nhiên, vốn là yếu tố cấu thành bản sắc của cộng đồng.
Mặt khác, rác thải sinh hoạt và chất thải từ hoạt động canh tác nông nghiệp hiện đại đang gây ô nhiễm đất và nước ở nhiều vùng đồng bào DTTS&MN. Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và các vật dụng nhựa dùng một lần ngày càng phổ biến, trong khi hệ thống thu gom và xử lý rác thải còn hạn chế. Điều này dẫn đến sự suy giảm chất lượng môi trường sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và phá vỡ nền tảng của tri thức sinh thái truyền thống vốn dựa trên mô hình tuần hoàn tự nhiên.
Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn, nhiều địa phương đã có những nỗ lực quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa và môi trường. Một số cộng đồng duy trì hiệu quả mô hình rừng cộng đồng dựa trên luật tục; nhiều làng du lịch cộng đồng triển khai hoạt động gắn với giáo dục BVMT; Các nghệ nhân tiếp tục truyền dạy nghề dệt, nghề đan lát và lễ hội truyền thống cho thế hệ trẻ. Các chương trình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng bước đầu chứng minh hiệu quả khi kết hợp tri thức địa phương với chính sách quản lý hiện đại.
2.3. Mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường
Mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống và BVMT trong cộng đồng DTTS là mối quan hệ mang tính tương hỗ, đan cài và bền vững, hình thành qua hàng trăm năm thích ứng với điều kiện sinh thái, xã hội đặc thù. Trước hết, văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS là kết quả của quá trình tương tác lâu dài với tự nhiên, trong đó môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là nền tảng định hình các tri thức địa phương, hệ giá trị và cấu trúc xã hội. Những quan niệm như “rừng là mẹ”, “suối là nguồn sống” hay “đất là tổ tiên” tạo nên ý thức cộng đồng sâu sắc về sự gắn bó và trách nhiệm đối với môi trường. Theo đó, nhiều tộc người xây dựng hệ thống luật tục, hương ước bảo vệ rừng, quy ước sử dụng đất và nguồn nước nhằm điều tiết hành vi, bảo đảm cân bằng sinh thái. Đây là minh chứng cho cơ chế BVMT có tính văn hóa, vận hành bằng niềm tin, uy tín và tính cộng đồng hơn là cưỡng chế hành chính.
Mặt khác, môi trường tự nhiên cũng duy trì và nuôi dưỡng văn hóa truyền thống. Sự tồn tại của các lễ hội nông nghiệp, tín ngưỡng đa thần, các thực hành nghi lễ liên quan đến rừng và nước phụ thuộc vào hệ sinh thái còn nguyên vẹn. Nhiều nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, làm nhà sàn, đan lát hay chế tác nhạc cụ dựa vào nguồn nguyên liệu địa phương với kỹ thuật khai thác bền vững. Khi môi trường bị suy thoái rừng bị thu hẹp, nguồn nước ô nhiễm, khí hậu biến đổi, các yếu tố văn hóa gắn liền với chúng cũng bị đứt gãy hoặc biến đổi theo chiều hướng tiêu cực. Điều này cho thấy vai trò sống còn của môi trường đối với tính liên tục văn hóa.
Hơn nữa, văn hóa truyền thống còn là nguồn lực quan trọng góp phần vào các chiến lược BVMT đương đại. Các tri thức địa phương về canh tác nương rẫy tuần hoàn, luân canh, xen canh; Cách quản lý nguồn nước theo cộng đồng; Hay kỹ năng dự báo thời tiết dựa trên quan sát tự nhiên ngày càng được nhìn nhận như thành tố của phát triển bền vững. Việc kết hợp tri thức địa phương với khoa học hiện đại không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên mà còn củng cố bản sắc và lòng tự hào văn hóa của cộng đồng. Do đó, bảo tồn văn hóa truyền thống và BVMT không chỉ là hai nhiệm vụ song song mà là hai chiều của một quá trình tương hỗ. Văn hóa BVMT và môi trường gìn giữ văn hóa. Nhận thức sâu sắc mối quan hệ này là cơ sở để xây dựng các chính sách, mô hình phát triển bền vững phù hợp với đặc thù của các cộng đồng DTTS trong giai đoạn hiện nay.
2.4. Môi trường là không gian nuôi dưỡng văn hóa
Môi trường là không gian nuôi dưỡng văn hóa Đối với các cộng đồng DTTS, môi trường tự nhiên không chỉ là nơi cư trú vật chất mà còn là không gian văn hóa, xã hội đóng vai trò nuôi dưỡng, định hình và tái tạo bản sắc văn hóa qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh cấu trúc xã hội truyền thống chủ yếu dựa trên chế độ cộng cư, phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên, môi trường được xem như cái nôi sản sinh các tri thức địa phương, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và hệ giá trị tinh thần của cộng đồng. Trước hết, cảnh quan sinh thái miền núi, gồm: Rừng, núi, suối, ruộng bậc thang, thung lũng,… là nền tảng tạo nên triết lý sống của nhiều đồng bào DTTS, nơi mỗi yếu tố tự nhiên đều được nhìn nhận như một thực thể linh thiêng. Quan niệm “vạn vật hữu linh” phổ biến trong tín ngưỡng của người Thái, Mông, Ê-đê, Cơ tu hay Ba na,… cho thấy mối quan hệ gắn kết giữa con người và tự nhiên. Rừng không chỉ là nguồn sinh kế mà còn là không gian thiêng, nơi cư ngụ của thần Rừng; suối là nơi trú ngụ của thần Nước; Ruộng là thành quả của sự hài hòa giữa con người và đất mẹ. Những niềm tin này định hình hành vi ứng xử với môi trường, giúp cộng đồng duy trì các quy định bất thành văn về bảo vệ rừng thiêng, giữ gìn nguồn nước và hạn chế khai thác quá mức.
Hơn nữa, môi trường tự nhiên còn là điều kiện tồn tại của các lễ hội, thực hành nghi lễ và sinh hoạt văn hóa dân gian. Nhiều lễ hội nông nghiệp như lễ mừng lúa mới của người Gia-rai, Ba na, lễ hội mừng cơm mới của người Tày, Nùng hay lễ cúng bến nước của người Ê-đê đều gắn trực tiếp với chu kỳ tự nhiên. Nếu hệ sinh thái bị suy thoái, những thực hành này không chỉ mất đi bối cảnh tồn tại mà còn bị biến đổi hoặc mai một, kéo theo sự đứt gãy trong đời sống tinh thần cộng đồng. Tương tự, nhiều nghề thủ công truyền thống, từ dệt thổ cẩm, nhuộm chàm, đan lát, đến làm nhà sàn, chế tác nhạc cụ phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu địa phương, như: mây, tre, gỗ, thảo mộc nhuộm. Sự phong phú của môi trường vì vậy là điều kiện tiên quyết để duy trì các kỹ thuật thủ công truyền thống.
Đặc biệt, môi trường còn là không gian giáo dục văn hóa tự nhiên, nơi tri thức địa phương được truyền dạy thông qua lao động, nghi lễ và kinh nghiệm sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em học cách nhận biết cây thuốc, đọc dấu vết thú rừng, canh mùa vụ, tìm nguồn nước… không qua sách vở mà qua tương tác trực tiếp với hệ sinh thái. Điều này cho thấy môi trường đóng vai trò như một “trường học mở”, nơi các giá trị văn hóa được tái sản sinh một cách tự nhiên và bền vững.
Như vậy, môi trường không chỉ nuôi dưỡng đời sống vật chất mà còn nâng đỡ và bảo tồn hệ giá trị tinh thần của các dân tộc thiểu số. Bất kỳ sự suy giảm nào của môi trường đều kéo theo sự biến dạng hoặc mất mát của văn hóa truyền thống, cho thấy tính thống nhất không thể tách rời giữa BVMT và bảo tồn văn hóa.
3. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa gắn với bảo vệ môi trường
Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS gắn với BVMT đòi hỏi một hệ giải pháp toàn diện, tích hợp và phù hợp với đặc trưng văn hóa, sinh thái của từng vùng miền.
Thứ nhất, cần coi tri thức địa phương bao gồm các tập quán sử dụng đất, quy ước cộng đồng về bảo vệ rừng, chu kỳ nương rẫy bền vững, kỹ thuật chế tác truyền thống là nguồn lực quan trọng trong quản lý tài nguyên. Việc sưu tầm, số hóa và đưa tri thức địa phương vào hệ thống quy hoạch môi trường và phát triển kinh tế - xã hội giúp tăng tính hiệu quả, tính chấp nhận của cộng đồng và đảm bảo sự kế thừa văn hóa.
Thứ hai, cần thiết lập cơ chế quản trị môi trường dựa trên cộng đồng. Mô hình này trao quyền cho người dân trong việc giám sát, tuần tra rừng, quản lý nguồn nước và phân bổ đất đai theo quy định của luật tục và pháp luật Nhà nước. Khi cộng đồng trở thành chủ thể của quá trình ra quyết định, tính bền vững của cả văn hóa lẫn môi trường được củng cố. Đồng thời, cần mở rộng các vùng rừng thiêng, rừng cộng đồng; Hỗ trợ kinh phí và pháp lý để những không gian mang tính tâm linh, sinh thái này trở thành lá chắn bảo vệ đa dạng sinh học.
Thứ ba, phát triển kinh tế xanh và du lịch sinh thái, văn hóa là giải pháp quan trọng tạo động lực cho bảo tồn. Việc khai thác giá trị văn hóa truyền thống trong du lịch phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng bản sắc, hạn chế thương mại hóa quá mức và đảm bảo quyền lợi kinh tế của cộng đồng địa phương. Các mô hình làng nghề dệt thổ cẩm bền vững, du lịch trải nghiệm nông nghiệp, hay sản phẩm OCOP từ thảo dược địa phương cần được thúc đẩy theo hướng giảm sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và gia tăng sinh kế xanh.
Thứ tư, giáo dục môi trường gắn với giáo dục văn hóa cần được triển khai đồng bộ trong nhà trường, các thiết chế văn hóa và trong đời sống cộng đồng. Việc đưa nội dung về luật tục, tri thức địa phương, kỹ năng BVMT vào chương trình giáo dục địa phương không chỉ giúp thế hệ trẻ nhận thức rõ giá trị văn hóa mà còn tăng cường trách nhiệm trong gìn giữ môi trường.
Thứ năm, Nhà nước cần hoàn thiện chính sách dân tộc, chính sách môi trường theo hướng liên ngành, đặc biệt là lồng ghép bảo tồn văn hóa vào các chương trình phát triển bền vững ở vùng đồng bào DTTS&MN. Cơ chế hỗ trợ tài chính, kỹ thuật và huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội sẽ tạo điều kiện để cộng đồng duy trì không gian văn hóa, sinh thái một cách ổn định lâu dài.
Nhìn chung, bảo tồn văn hóa và BVMT chỉ đạt hiệu quả khi được triển khai theo hướng cộng sinh, trong đó cộng đồng là trung tâm và tri thức địa phương được tôn trọng như một giá trị chiến lược của phát triển bền vững.
4. Kết luận
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS gắn với BVMT là định hướng phát triển bền vững mang tính chiến lược. Văn hóa truyền thống không chỉ phản ánh sự thích nghi lâu dài của cộng đồng với tự nhiên mà còn chứa đựng hệ tri thức địa phương có giá trị trong quản lý tài nguyên hiện đại. Ngược lại, môi trường là không gian nền tảng bảo đảm sự tồn tại và tái tạo các giá trị văn hóa. Do đó, việc xây dựng chính sách, mô hình phát triển và cơ chế quản trị cần đặt cộng đồng vào vị trí chủ thể; kết hợp hài hòa giữa tri thức địa phương và khoa học; Đồng thời tạo động lực kinh tế - xã hội để văn hóa và môi trường cùng được duy trì và phát triển một cách bền vững .
*Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
*Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Đình Thảo (2020), Tri thức địa phương với vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng của đồng bào các dân tộc miền Tây tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 433 - Tháng 7.
2. Ngô Đức Thịnh (2003), Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.
3. Trần Hữu Sơn (2008), Tri thức bản địa của người Hà Nhì ở Việt Nam với vấn đề bảo vệ rừng, Hội thảo Việt Nam học lần 3.
4. UNESCO (2021), Safeguarding Intangible Cultural Heritage and Sustainable Environmental Practices, Paris.