Lễ hội cầu Ngư - một sinh hoạt tín ngưỡng dân gian tại xã Vạn Lộc, Thanh HóaTừ khóa: Tín ngưỡng dân gian; Văn hóa Việt Nam; Đời sống tinh thần, tôn giáo; Phong tục tập quán.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là quốc gia có điều kiện tự nhiên đa dạng, lịch sử lâu đời và sự cộng cư của nhiều tộc người. Trong quá trình sinh tồn và phát triển, cư dân Việt Nam đã hình thành hệ thống đời sống tinh thần phong phú, trong đó tín ngưỡng dân gian giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là hình thức biểu hiện niềm tin mà còn là phương thức phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân con người.
Hiện nay, trong bối cảnh biến đổi xã hội và giao lưu văn hóa ngày càng mạnh mẽ, tín ngưỡng dân gian tiếp tục tồn tại, biến đổi và tác động đến nhiều mặt của đời sống. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống về tín ngưỡng dân gian có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Khái niệm và đặc trưng của tín ngưỡng dân gian
2.1. Khái niệm tín ngưỡng dân gian
Hiện nay giới khoa học xã hội đang có nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề tín ngưỡng dân gian, có lẽ khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất về vấn đề tín ngưỡng dân gian. Để hiểu về tín ngưỡng dân gian chúng ta thử phân tích từng thành tố của vấn đề. Tín ngưỡng, chiết tự theo nghĩa Hán - Việt thì “tín” là niềm tin, “ngưỡng” là ngửa mặt lên. Có thể hiểu tín ngưỡng là niềm tin thiêng liêng; theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, tín ngưỡng nghĩa là lòng tin và sự ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào đó. Nhìn chung, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng: tín ngưỡng có hai nghĩa. Nghĩa rộng, tín ngưỡng phản ánh niềm tin và sự ngưỡng mộ, sùng kính của con người về một chủ thuyết, một lực lượng nào đó. Tín ngưỡng tôn giáo chỉ là một dạng của tín ngưỡng nói chung. Theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng là đức tin, niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, là một bộ phận cấu thành chủ yếu của tôn giáo. Cơ sở của tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên” (hay nói gọn lại là “cái thiêng”) - cái đối lập với cái “trần tục”, cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được. Khái niệm dân gian, trước hết đây là danh từ chung mà nội hàm của nó để chỉ tất cả những thế hệ người sống trong cùng địa danh, vùng miền, đất nước, lãnh thổ có chung những nét văn hóa, phong tục, tập quán, văn học, lối sống, ngôn ngữ... Những sản phẩm văn hóa đó không phải chỉ của một cá nhân tạo ra mà là của cả cộng đồng người từ thế hệ xa xưa đến tận ngày nay cùng sáng tạo lưu truyền và gìn giữ (tập quán dân gian, văn hóa dân gian...). Vì vậy dân gian không phải chỉ con người cá nhân mà chỉ tập thể người có vai trò lớn trong xây dựng nên nền văn hóa của dân tộc.
Ở Việt Nam, từ lâu đã tồn tại khái niệm tín ngưỡng dân gian, đó là một trong những loại hình tín ngưỡng phản ánh rõ nét nhất đặc trưng của văn hóa dân tộc.
2.2. Đặc trưng của tín ngưỡng, dân gian
Ngoài những điểm đồng nhất, giống nhau cơ bản, phương thức biểu tượng hóa đối tượng niềm tin trong tôn giáo và trong tín ngưỡng dân gian cũng có những khác nhau nhất định. Cả trong tôn giáo lẫn trong tín ngưỡng dân gian, đối tượng tin được người tin tạo cho một lý lịch, một năng lực, một sức mạnh cụ thể có lợi (hoặc có hại) cho con người. Trong trường hợp nhất định, đối tượng đó, còn được cụ thể hóa bằng một hình dạng cụ thể phù hợp với sức mạnh, tính cách mà con người gắn cho nó. Nhưng, thông thường trong tín ngưỡng dân gian, hình dạng con người với tư cách là đối tượng tin mang tính tích cực thường được nhân dân gán cho những đặc tính siêu nhiên, huyền bí, có sức mạnh oai phong, lẫm liệt.
Từ những nhận định như trên, có thể hiểu: Tín ngưỡng dân gian, đó là một trong những nét đặc trưng của văn hóa dân tộc do chính nhân dân sáng tạo ra, phản ánh niềm tin và sự ngưỡng mộ, sùng kính của con người vào những lực lượng siêu nhiên thần bị, vô hình... có sức mạnh vô biên và đầy huyền bí có khả năng tác động và chi phối con người nên được nhân dân tôn thờ, sùng bái. Cũng giống như tôn giáo việc thể chế hóa niềm tin và quy cách hóa việc thực hiện niềm tin trong tín ngưỡng dân gian là phương thức bày tỏ mối quan hệ giữa chủ thể niềm tin và khách thể được tin với ý niệm rằng phải làm như vậy đối tượng tin mới nhận được niềm tin của người tin, người gửi gắm; khi đó, đối tượng tin mới giúp đỡ họ thực hiện niềm tin. Việc thể chế hóa đã đòi hỏi một “địa điểm thiêng”, một “không gian thiêng”, một “vật thiêng” vật dâng cúng. Trong tín ngưỡng dân gian tất cả những cái đó mang tính bình dị, tự nhiên, gần gũi với người có đức tin.
2.3. Chức năng của tín ngưỡng dân gian
Giống như tôn giáo, tín ngưỡng dân gian cũng có chức năng riêng đó là: chức năng đền bù hư ảo; chức năng giáo dục, định hướng giá trị, đánh giá, xác định chuẩn mực ứng xử của con người; chức năng tổ chức xã hội, điều chỉnh mối quan hệ cộng đồng trong phạm vi và trên lĩnh vực tương ứng Chức năng đền bù hư ảo thể hiện ở chỗ: với những quan niệm về niềm tin vào đấng siêu nhiên hoặc con người đã được thần thánh hóa, tín ngưỡng dân gian mang lại cho người tin một niềm an ủi, động viên, một sự nâng đỡ tinh thần nhất định. Chức năng giáo dục, định hướng giá trị, đánh giá, xác định chuẩn mực ứng xử của con người. Tuy không thành một hệ chuẩn mang tính hệ thống hoàn chỉnh, nhưng tín ngưỡng dân gian mang trong mình một quy phạm về cách ứng xử đòi hỏi chủ thể tin vào đối tượng tin nào đó phải có hành động tương hợp. Những quan niệm đã biến thành động cơ chi phối hành vi của chủ thể tin. Tuy quan niệm sống, cách ứng xử do tín ngưỡng dân gian đưa ra phần nhiều không mang tính phổ biến như hệ chuẩn đạo đức của tôn giáo, nhưng ít nhiều nó cũng thường mang màu sắc thần bí. Ai không tuân thủ sẽ bị đối tượng tin trừng phạt. Lo sợ trước sự trừng phạt đó, người có tín ngưỡng dân gian về một đối tượng tin với yêu cầu chuẩn mực đạo đức do đối tượng ấy đòi hỏi, thì họ hướng vào những đòi hỏi đó với tất cả sự chân thành, tự nguyện của mình nhằm hiện thực hóa chúng.
Bên cạnh loại đối tượng của tín ngưỡng dân gian mang trong mình đòi hỏi tính hướng thiện, chuẩn mực sống cao đẹp, có tình thương yêu con người, mang trong mình sức mạnh trợ giúp con người trong những lúc nguy nan, cũng có loại đối tượng tin chuyên mang lại đau khổ, bất hạnh cho con người. Trong trường hợp đó, vai trò điều chỉnh hành vi của tín ngưỡng dân gian lại được hiện thực hóa bởi công việc rèn luyện cho mình bản tính tránh mọi tai ương có thể gặp phải trong cuộc sống, bản tính biết vượt lên tai ương, nghiệp chướng mà tồn tại. Xét trên ý nghĩa đó, ngay loại thứ hai này cũng có giá trị định hướng mang tính tích cực cho chủ thể tin.
Chức năng tổ chức xã hội, điều chỉnh mối quan hệ cộng đồng trong phạm vi và trên lĩnh vực tương ứng. Chức năng này là kết quả hiện thực hóa vai trò “liên kết tinh thần” giữa những người có cùng một niềm tin nói chung, có cùng một tín ngưỡng dân gian nói riêng. Con người là một sinh vật - xã hội. Sự liên kết luôn là một đòi hỏi tất yếu khách quan, để có được một sức mạnh cần thiết cho đời sống của cộng đồng. Chức năng liên kết của tín ngưỡng dân gian được quyết định bởi sự thống nhất về lợi ích tinh thần giữa những người có cùng một loại đối tượng tin. Nói cách khác, những người có cùng đức tin vào lực lượng siêu nhiên do chính nhân dân tạo ra bao giờ cũng liên kết với nhau nhờ niềm tin chung vào lực lượng siêu nhiên đó.
Tính vững chắc của sự cố kết trên cơ sở có tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ chỗ bản thân tín ngưỡng đã là sức mạnh cố kết tinh thần mạnh mẽ. Sự cố kết ấy tăng lên nhờ sự thiêng liêng của đối tượng tin, được phát huy và thử thách qua cuộc đấu tranh giữa đức tin và cuộc sống thực mà không ít trường hợp, đức tin mang lại cho họ sự an ủi nhất định.
Trong cuộc sống thường nhật, sự liên kết giữa những con người nhờ tín ngưỡng dân gian có thể có ý nghĩa tích cực tạo nên sức mạnh giúp con người vượt qua những khó khăn to lớn mà họ gặp phải; song nó cũng có thể gây ra những hậu quả khôn lường - khi tín ngưỡng đã phát triển quá đà, chuyển thành mê tín dị đoan.
3. Các hình thức cơ bản của tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam
3.1. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Thực chất tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là tôn thờ các thần tự nhiên, như thần Mây, thần Mưa, thần Sấm, thần Sét, thần Núi, thần Rừng, thần Sông, thần Biển... Sở dĩ có tín ngưỡng này là vì, người Việt cổ cảm thấy mình vô cùng nhỏ bé, bị chóang ngợp trước thiên nhiên hùng vĩ. Thiên nhiên vừa là cái nôi nuôi dưỡng con người, vừa là lực lượng đe dọa sinh mạng con người. Với tư duy thô sơ, người Việt cổ luôn quan niệm rằng, vạn vật xung quanh đều biết suy nghĩ và có cuộc sống như người trần tục. Cái thế giới thiêng đã có thể mang tới, ban phát niềm hạnh phúc, nhưng cũng có thể gieo rắc nỗi bất hạnh cho con người. Vì vậy, con người vừa tôn kính, biết ơn vừa sợ hãi các lực lượng tự nhiên. Đây là cội nguồn của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Hơn nữa, phương thức sinh sống của người Việt cổ chủ yếu là canh tác nông nghiệp, phương thức này là một loại hình lao động hết sức vất vả, công sức lao động của con người bỏ ra thì lớn nhưng thu hoạch lại phụ thuộc vào thiên nhiên. Sự khắc nghiệt ấy, đẩy con người vào thế bị động, trông chờ vào sự may, rủi, sự phù hộ, độ trì của các thần. Đây là lý do cho sự ra đời và tồn tại của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên.
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên được biểu hiện rất đa dạng, phong phú. Hầu hết các đối tượng tự nhiên đều được thần thánh hóa và thờ cúng ở khắp mọi nơi. Trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, người ta tin rằng, hòn đá, gốc cây đều có thần ngu, nhất là những hòn đá kỳ quái ở các hang động, hay trước cửa chùa. Những cây đa, cây đề, cây sỉ, cây đại có niên đại nhiều năm, cành lá sum suê là những cây có thần mộc tỉnh trú ngụ. Nhiều thần tự nhiên được người Việt cổ đưa lên hàng Mẫu như: thần Núi Tam Đảo “Tam Đảo sơn trụ quốc Mẫu thái phu nhân chi thần”, thần Núi Bà Đen “Linh Sơn Thánh Mẫu”, thần Nước “Thánh Mẫu thoải phủ”, thần đất “Địa Mẫu”, thần rừng “Thượng ngàn Thánh Mẫu”. Thần được người vùng châu thổ sông Hồng thờ phổ biến hơn cả là những vị làm ra mưa và những vị cai quản những nơi có nước như là chị em bà pháp Vũ, pháp Vân, pháp Lôi, pháp Điện mà Nhân dân gọi là “Tứ pháp”. Các vị thủy thần dưới các danh xưng như: Giao Long, Hà Bá, Nam Hải Đại vương.
Trong tâm thức cư dân Việt Nam, trồng trọt, chăn nuôi thì trời đất, trăng sao, mây mưa, sấm chớp, sự giao hoà âm dương đều trở thành những vị thần hộ mệnh. Sự tôn kính những vị thần vô hình ấy được biểu hiện qua những nghi thức dẫn lễ, những trò chơi trong lễ hội ngày nay.
3.2. Tín ngưỡng sùng bái con người
Thực chất của tín ngưỡng sùng bái con người, là tôn thờ linh hồn của người đã khuất. Cơ sở của tín ngưỡng này xuất phát từ quan niệm của người Việt cổ cho rằng, con người có hai phần, phần xác và phần hồn. Khi chết là chết về thể xác còn phần hồn tồn tại. Phần hồn cũng có nhu cầu cuộc sống như người trần tục, “trần sao, âm vậy”. Hơn nữa, từ xa xưa người Việt cổ quan niệm rằng, “bất hiếu, dĩ tử bất hiếu”, tức là “đối xử với người đã khuất như thế nào, thì con cháu đối xử với mình như vậy”. Trong tâm khảm của mỗi con người bao giờ cũng mong muốn sự nền nếp, gia phong của mỗi gia đình, con cháu ngoan ngoãn, trên kính, dưới nhường. Vì thế, tín ngưỡng sùng bái con người một mặt phản ánh kính trọng người đã khuất, mặt khác tạo nên sức mạnh linh thiêng đáp ứng mong muốn của con người trên trần thế.
Tín ngưỡng sùng bái con người, được biểu hiện lớn nhất trong hệ thống thờ cúng Tổ tiên, những người có công với dân, với nước, các anh hùng dân tộc, cao hơn cả là tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Trong cuộc sống của mỗi con người bao giờ cũng có một khoảng linh thiêng đó là mồ mả, bát hương thờ cúng ông bà Tổ tiên, những người đã khuất. Mồ mả, bát hương là những biểu tượng thiêng liêng có sức mạnh vô hình trong mỗi gia đình, gia tộc, làng, xã, quốc gia xưa và nay. Bàn thờ là biểu tượng thiêng liêng, được đặt ở nơi trang trọng nhất, đoàn tụ về cội nguồn, duy trì các giá trị thiêng liêng chuyển giao qua các thế hệ.
Trong cuộc sống đời thường, mỗi người Việt Nam, ngoài mối liên hệ với người trần tục, họ còn có mối liên kết thiêng liêng, mang tính vô hình với người đã khuất, các vị Anh hùng dân tộc. Trong tâm thức dân gian Việt Nam, từ lâu vẫn nhớ về cội nguồn, Tổ tiên dân tộc. Như vậy, không gian thờ Tổ của người Việt mở rộng tới tầm quốc gia “Tổ của nước” ngày giỗ Tổ là ngày thiêng liêng của cả dân tộc. Đền Hùng trở thành trung tâm văn hóa, tín ngưỡng thể hiện ý niệm thiêng liêng của người Việt với Tổ tiên trên phương diện quốc gia dân tộc.
Cơ bản các làng, xã ở Việt Nam đều thờ Thành hoàng làng. Thành hoàng làng là thần bản mệnh của làng, thần giữ gìn, bảo vệ sinh mệnh cho cả làng. Thành hoàng làng hầu hết là Nam nhưng cũng có nơi là Nữ, có Thành hoàng làng là con người thật nhưng cũng có Thành hoàng làng là con người huyền thoại, có thiên thần, nhân thần, có chính thần nhưng cũng có khi là dị thần, yêu thần, tà thần như thần ăn xin, thần ăn trộm, thần tà dâm. Dù lai lịch thế nào nhưng một khi được nhân dân thừa nhận và tôn vinh thì cộng đồng ấy nhất mực kính trọng. Xét chung trong hệ thống thần Thành hoàng làng ở nước ta thường là người có công trong đánh giặc giữ làng, giữ nước, có công mở mang bờ cõi hoặc mang lại nghề nghiệp cho làng. Nơi thiêng liêng nhất để thần trú ngụ là điện thờ, điện thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong đình.
Tín ngưỡng sùng bái con người đã làm nên một tín ngưỡng đặc sắc của người Việt. Tín ngưỡng thờ cúng những người đã khuất là thực hiện nếp sống văn hóa, đạo đức và tâm linh. Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, gia tộc, những người có công với làng xã, với Tổ quốc, tạo điều kiện duy trì những không gian linh thiêng, những môi trường văn hóa truyền thống dân tộc. Có thể khẳng định tín ngưỡng sùng bái con người là đạo lý, là điểm tựa tinh thần đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Việt Nam.
3.3. Tín ngưỡng sùng bái phồn thực
Thực chất tín ngưỡng sùng bái phồn thực là tôn thờ sự sinh sôi, nảy nở, phát triển. Cơ sở của tín ngưỡng này được hình thành từ thuở xa xưa của con người, thông qua cơ chế liên tưởng giữa sự sinh sản của con người và sự sinh trưởng của cây cối và động vật. Tín ngưỡng sùng bái phồn thực tồn tại dưới hai dạng, thờ sinh thực khí và thờ hành vi giao phối, với mục đích cầu mong cho mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi, nảy nở, nhà nhà con đàn cháu đống. Đây là ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp Việt Nam. Vì vậy, tín ngưỡng sùng bái phồn thực đã hóa thân trong cuộc sống của người nông dân ở khắp các vùng quê, trở thành sinh hoạt tinh thần không thể thiếu của họ.
Tín ngưỡng của người Việt vô cùng phong phú cả về hình thức và cách thể hiện. Điều đó thể hiện ước vọng cháy bỏng ngàn đời của dân tộc, mong muốn thánh thần phù hộ cho sự sinh sôi nảy nở, đủ đầy muôn người, muôn vật. Hệ thống tín ngưỡng đó đã hóa thân vào các lễ thức sinh hoạt truyền thống và trở thành giá trị văn hóa đặc sắc của người Việt Nam.
4. Kết luận
Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam là một hiện tượng văn hóa - xã hội có lịch sử lâu đời, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần của cộng đồng. Với hệ thống biểu hiện phong phú, tín ngưỡng dân gian không chỉ góp phần bảo tồn giá trị truyền thống mà còn tham gia điều chỉnh hành vi xã hội và củng cố sự cố kết cộng đồng. Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện đúng giá trị của tín ngưỡng dân gian và định hướng phát triển phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc .
Tài liệu tham khảo
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Khoa học về tín ngưỡng, tôn giáo: Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Hà Nội 2000, tr. 12.
2. Phạm Ngọc Quang (chủ biên), Một số vấn đề về tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam.
3. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục.