Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chính sách dân tộc - Thành tựu và những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên mới

ThS. Nguyễn Duy Dũng, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo - 11:49, 24/02/2026

( DTTG) - Bài viết tập trung phân tích những thành tựu nổi bật của chính sách dân tộc Việt Nam trong những thập kỷ qua, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới đến nay. Qua đó, tác giả làm rõ những thay đổi tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa và giáo dục của đồng bào dân tộc thiểu số, những vấn đề đặt ra và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc trong giai đoạn tới.

Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách...
Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách...

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những thành tựu nổi bật của chính sách dân tộc Việt Nam trong những thập kỷ qua, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới đến nay. Qua đó, tác giả làm rõ những thay đổi tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa và giáo dục của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, trong bối cảnh kỷ nguyên mới với nhiều thách thức, như: chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững,… chính sách dân tộc đang đứng trước nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Bài viết nêu những vấn đề đặt ra và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Chính sách dân tộc; Thành tựu; Vấn đề đặt ra; Dân tộc thiểu số; Phát triển bền vững; Kỷ nguyên mới.

Nhận bài: 02/7/2025; Phản biện: 04/7/2025; Tác giả sửa: 10/7/2025; Duyệt đăng: 25/7/2025

1. Đặt vấn đề

Chính sách dân tộc là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, việc đảm bảo quyền lợi và thúc đẩy phát triển toàn diện cho các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ chiến lược, thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, chính sách dân tộc cần được nhìn nhận và điều chỉnh phù hợp để đáp ứng yêu cầu mới, hướng đến phát triển bền vững và bao trùm.

Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn là một trong những nội dung có ý nghĩa chiến lược trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong suốt tiến trình cách mạng, từ thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc cho đến giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta luôn khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, là động lực và nguồn lực to lớn của sự nghiệp cách mạng”. Thực tiễn 95 năm qua dưới lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (kể từ khi thành lập năm 1930 đến nay) đã chứng minh rằng chính sách dân tộc đúng đắn, nhất quán và nhân văn là một trong những nhân tố then chốt bảo đảm sự ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, chính sách dân tộc tiếp tục được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Các chương trình mục tiêu quốc gia, như Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cùng với hệ thống chính sách ưu tiên đầu tư, hỗ trợ giáo dục, y tế, văn hóa… đã góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa các dân tộc. Các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc được bảo tồn và phát huy, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được nâng lên, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được khẳng định trong công cuộc phát triển đất nước.

Tuy nhiên, trong bối cảnh “kỷ nguyên mới” với những đặc trưng nổi bật như toàn cầu hóa, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, đô thị hóa nhanh chóng cùng với những thách thức về an ninh phi truyền thống, các vấn đề đặt ra đối với chính sách dân tộc cũng ngày càng phức tạp và đa chiều hơn. Một số chính sách còn mang tính chất bao cấp, dàn trải, thiếu hiệu quả thực chất; cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực thi chính sách còn chồng chéo; nhận thức và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ở một số nơi còn hạn chế. Đặc biệt, sự chênh lệch trình độ phát triển, nguy cơ tụt hậu, mất bản sắc văn hóa, cùng với tác động của mặt trái của kinh tế thị trường và mạng xã hội đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy và phương pháp tiếp cận trong xây dựng, thực thi chính sách dân tộc.

Trong bối cảnh đó, việc nhìn lại, đánh giá một cách toàn diện, khách quan và khoa học về thành tựu cũng như những vấn đề đang đặt ra trong thực hiện chính sách dân tộc là một yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc phát huy những kết quả đã đạt được, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, mà còn nhằm định hướng cho việc xây dựng hệ thống chính sách dân tộc phù hợp hơn với thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới - giai đoạn của khát vọng vươn lên thành quốc gia phát triển, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Trong hơn ba thập niên đổi mới và phát triển, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về tư duy, nội dung và phương thức thực hiện. Được hoạch định trên nền tảng tư tưởng nhất quán về bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, chính sách dân tộc không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, mà còn đóng vai trò then chốt trong việc đưa các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từng bước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, hòa nhập với tiến trình phát triển chung của cả nước.

Thứ nhất, chuyển biến rõ rệt về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

Một trong những kết quả dễ nhận thấy nhất của chính sách dân tộc là sự cải thiện mạnh mẽ hệ thống kết cấu hạ tầng vùng dân tộc thiểu số và miền núi - nơi từng bị coi là “vùng lõm phát triển”. Thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án hỗ trợ có trọng tâm, như: Chương trình 135, Chương trình 134, Nghị quyết 30a, Chương trình Nông thôn mới… và đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, hàng ngàn công trình giao thông, thủy lợi, điện lưới, trường học, trạm y tế, nước sạch… đã được đầu tư xây dựng.

Tính đến năm 2024, theo thống kê của Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), gần 98% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đường ô tô đến trung tâm, trên 94% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia, hơn 80% người dân được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh… Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, mà còn góp phần quan trọng trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng.

Thứ hai, kết quả nổi bật trong xóa đói, giảm nghèo và phát triển sinh kế bền vững.

Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và giảm nghèo bền vững là một trong những trụ cột trong chính sách dân tộc hiện hành. Hàng loạt mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp gắn với đặc thù vùng miền được triển khai, giúp đồng bào từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác.

Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 cho thấy, tỷ lệ giảm nghèo bình quân vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt 3,2%, vượt so với mục tiêu trên 3% đề ra. Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số năm 2025 ước đạt 45,9 triệu đồng, tăng 3,3 lần so với năm 2020, cao hơn mục tiêu tăng trưởng trên 2 lần (Linh Khánh, 2025). Qua việc hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề và tạo sinh kế, nhiều hộ đã chủ động phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, áp dụng khoa học kỹ thuật và liên kết chuỗi giá trị, từng bước vươn lên, hướng tới làm giàu bền vững.

Bên cạnh đó, một số địa phương có điều kiện thuận lợi đã vươn lên đạt mức thu nhập bình quân tương đương vùng thấp, mở ra cơ hội thoát nghèo bền vững. Ngoài ra, chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm thông qua các chương trình của Ngân hàng Chính sách xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội… đã tác động tích cực đến sự nâng cao năng lực nội sinh, phát triển sản xuất và tăng thu nhập cho đồng bào.

Thứ ba, cải thiện rõ rệt các chỉ số xã hội: giáo dục, y tế và chất lượng dân sinh.

Một thành tựu quan trọng khác là sự chuyển biến toàn diện về mặt xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe - những yếu tố quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong dài hạn.

Thứ tư, tăng cường vai trò, vị thế và sự tham gia chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số.

Chính sách dân tộc không chỉ hướng tới nâng cao đời sống kinh tế - xã hội, mà còn chú trọng mở rộng quyền tham gia chính trị và nâng cao vị thế của đồng bào các dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị.

Hiện nay, có hàng nghìn cán bộ là người dân tộc thiểu số giữ các vị trí lãnh đạo trong hệ thống chính trị, chính quyền địa phương, Quốc hội và các đoàn thể. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số được quan tâm thường xuyên, thể hiện rõ qua các chương trình cử tuyển, xét tuyển vào trường chuyên biệt, như: Học viện Dân tộc, Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương, Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn, Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang, Trường Dự bị Đại học Thành phố Hồ Chí Minh),...

Trong đó, đặc biệt có sự tham gia tích cực của đồng bào vào quản lý nhà nước, giám sát cộng đồng, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, ngày càng được nâng cao, từ đó tăng cường niềm tin vào thể chế chính trị, góp phần ổn định địa bàn, đặc biệt ở những vùng biên giới, trọng điểm chiến lược.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng, tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Không chỉ nâng cao mức sống, xóa đói giảm nghèo, mà còn đảm bảo quyền con người, phát huy nội lực của đồng bào, đóng góp vào sự phát triển toàn diện của đất nước. Những thành tựu này là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn, phù hợp và hiệu quả của các định hướng chiến lược trong công tác dân tộc.

2.2. Bảo đảm quyền bình đẳng, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc

* Quan điểm và cơ sở chính trị - pháp lý về quyền bình đẳng dân tộc và văn hóa.

Ngay từ buổi đầu thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập quan điểm nhất quán rằng:“Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam đều bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Quan điểm này không chỉ dừng lại ở lời tuyên ngôn chính trị mà đã được thể chế hóa trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật quan trọng. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định rõ: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (Điều 5) (Hiến pháp năm 2013).

Bên cạnh đó, các luật chuyên ngành như Luật Bình đẳng giới, Luật Di sản văn hóa, Luật Tín ngưỡng - tôn giáo, Luật Giáo dục và các nghị quyết chuyên đề của Quốc hội, Chính phủ đều dành các điều khoản ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thể hiện sự cam kết của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công bằng với các dịch vụ giáo dục, y tế, thông tin, văn hóa và phát triển con người.

* Thành tựu trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.

Trong nhiều năm qua, các chính sách dân tộc đã tập trung không chỉ vào phát triển kinh tế mà còn chú trọng đến việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số - yếu tố cốt lõi làm nên sự đa dạng, phong phú và độc đáo của nền văn hóa Việt Nam.

Một là, hàng trăm lễ hội truyền thống được phục dựng và tổ chức định kỳ (như Lễ hội Gầu Tào của người Mông, Lễ hội Cầu mùa của người Thái, Lễ hội Then của người Tày - Nùng…).

Hai là, các làng văn hóa, bảo tàng dân tộc học, trung tâm nghiên cứu văn hóa dân gian được xây dựng, hoạt động ngày càng hiệu quả.

Ba là, nhiều nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, đúc đồng, làm giấy dó, nhạc cụ dân tộc… được khuyến khích phát triển trở lại thông qua chương trình OCOP, du lịch cộng đồng và các mô hình phát triển kinh tế gắn với văn hóa bản địa.

Bốn là, giáo dục bằng tiếng dân tộc thiểu số được thí điểm và triển khai ở nhiều vùng như Tây Nguyên, Tây Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long.

Đặc biệt, việc ghi danh nhiều di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số vào danh mục quốc gia và UNESCO, như: Hát Then của người Tày, Hát Then của người Nùng, Hát Then của người Thái, Nghi lễ cấp sắc của người Dao, đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội về giá trị và vai trò của văn hóa dân tộc trong phát triển bền vững.

* Những thách thức trong bảo đảm quyền và phát triển văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm quyền bình đẳng và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số đang đối mặt với không ít thách thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số mạnh mẽ.

Trước hết là nguy cơ mai một bản sắc văn hóa truyền thống do quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, sự du nhập của các giá trị văn hóa ngoại lai và mặt trái của kinh tế thị trường. Nhiều nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lễ hội truyền thống, ngôn ngữ bản địa không còn được duy trì thường xuyên; lớp trẻ có xu hướng xa rời giá trị văn hóa truyền thống do thiếu môi trường tiếp cận và giáo dục phù hợp.

Thứ hai, quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số trong việc tham gia đời sống văn hóa vẫn chưa thực sự đầy đủ. Một số thiết chế văn hóa cơ sở còn thiếu hoặc xuống cấp, chương trình truyền thông, văn hóa chưa đa dạng ngôn ngữ, làm hạn chế khả năng tiếp cận thông tin. Tình trạng kỳ thị ngầm, thiên lệch trong tiếp cận cơ hội đôi khi vẫn còn tồn tại trong nhận thức và hành xử của một bộ phận cán bộ, xã hội.

Thứ ba, nguồn nhân lực làm công tác văn hóa dân tộc còn thiếu và yếu, nhất là ở cấp cơ sở. Việc ứng dụng công nghệ số vào bảo tồn, số hóa di sản văn hóa còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu thời đại.

* Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách trong giai đoạn mới.

Để bảo đảm quyền bình đẳng, tôn trọng và phát huy hiệu quả bản sắc văn hóa các dân tộc trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp:

Một là, thể chế hóa đầy đủ các quyền văn hóa trong luật pháp quốc gia, bảo đảm việc thực thi có giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm rõ ràng.

Hai là, xây dựng chiến lược bảo tồn văn hóa dân tộc gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt thông qua mô hình du lịch cộng đồng, sản phẩm văn hóa - thủ công gắn với OCOP.

Ba là, đẩy mạnh số hóa di sản, tư liệu văn hóa và ngôn ngữ dân tộc thiểu số, tăng khả năng tiếp cận, quảng bá và lưu trữ lâu dài.

Bốn là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa là người dân tộc thiểu số, có năng lực kết nối cộng đồng và ứng dụng công nghệ mới.

Năm là, tạo môi trường giáo dục văn hóa bản địa trong nhà trường và cộng đồng, nhất là ở bậc học phổ thông và hoạt động đoàn thể.

Sáu là, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chương trình văn hóa, từ đó phát huy quyền làm chủ thực sự và tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào.

2.3. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng và đổi mới việc thực hiện tốt chính sách dân tộc, giải quyết thành công vấn đề dân tộc nên sự đồng thuận xã hội và và khối đại đoàn kết dân tộc luôn được củng cố vững chắc và phát huy vai trò động lực to lớn của mình. Nhờ vậy, cách mạng nước ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, nhận thức và tư duy của Đảng ta về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc, vấn đề chiến lược của cách mạng ngày càng thực chất hơn, sâu sắc hơn. Chính vì vậy, trong mỗi kỳ đại hội, Đảng ta luôn quan tâm tới việc đề ra và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, đại đoàn kết dân tộc.

Trong các văn kiện của Đảng từ trước đến nay (kể từ Đại hội VI (1986), vấn đề dân tộc luôn được quan tâm và xác định là những vấn đề cấp bách, yêu cầu khách quan cần phải giải quyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, kiên trì thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc, Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới và các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII, XIII; xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị (Nguyễn Thế Tùng,. Đỗ Thị Thạch, 2024).

Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, vấn đề dân tộc luôn có quan hệ với vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và thường được quốc tế hóa trong nhìn nhận và giải quyết. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, việc giải quyết vấn đề dân tộc cần gắn việc thực hiện chính sách dân tộc với việc thực hiện chính sách tôn giáo, thực sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Trên thực tế, vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền luôn là vấn đề nhạy cảm. Các thế lực thù địch của cách mạng luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền để kích động, chia rẽ Nhân dân, chia rẽ các dân tộc, các tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây phương hại lợi ích chung của đất nước. Bởi vậy,thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo chính là góp phần khắc phục sự kỳ thị, chia rẽ các dân tộc, các tôn giáo; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc, mặc cảm tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong bối cảnh đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và toàn cầu hóa, việc giải quyết vấn đề dân tộc có thể sẽ thuận lợi hơn, song phần nhiều là phức tạp hơn, do đó, đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên đổi mới và thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Đây thực sự là sự nghiệp của toàn dân mà trực tiếp là của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó cũng đòi hỏi việc mở rộng và phát huy dân chủ trong xây dựng, hoàn thiện và thực hiện đầy đủ các hình thức dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng dân cư), đồng thời phải giữa vững kỷ cương xã hội và đạo lý dân tộc.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề hệ trọng, vấn đề chiến lược của cách mạng nước ta. Giải quyết vấn đề dân tộc cần quán triệt sâu sắc quan điểm toàn diện của Đảng về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chỉ có trên cơ sở thực hiện tốt, có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới được củng cố và tăng cường tạo thành động lực to lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.

2.4. Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Trước yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm công bằng xã hội và giữ vững ổn định chính trị trong bối cảnh mới, việc hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về công tác dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết. Cần có định hướng rõ ràng, giải pháp đồng bộ, có trọng tâm và phù hợp với đặc điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Một là, xây dựng và ban hành Luật về công tác dân tộc.

Việc ban hành Luật Công tác dân tộc là yêu cầu cấp bách nhằm khắc phục tình trạng thiếu cơ sở pháp lý thống nhất, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc hoạch định và triển khai chính sách dân tộc trong dài hạn. Luật cần thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013 về vấn đề dân tộc; bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết và phát huy nội lực của các dân tộc thiểu số.

Luật cũng cần xác định rõ vai trò, chức năng, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý công tác dân tộc; quy định cơ chế phân cấp, phối hợp, giám sát và đánh giá thực hiện chính sách một cách hiệu quả.

Hai là, hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc theo hướng tích hợp, liên ngành.

Thể chế chính sách cần được xây dựng theo hướng tích hợp, tổng thể, đa ngành, tránh chồng chéo và phân tán như hiện nay. Cần rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ các chính sách không còn phù hợp; đồng thời thiết kế các chính sách mới dựa trên nhu cầu thực tế, đặc điểm văn hóa - xã hội và điều kiện phát triển của từng dân tộc, từng vùng miền.

Đặc biệt, cần chú trọng các chính sách liên quan đến phát triển giáo dục, y tế, giảm nghèo bền vững, phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa, chuyển đổi sinh kế và ứng phó với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ba là, tăng cường năng lực quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc.

Cần kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm đủ thẩm quyền và năng lực để tham mưu, tổ chức thực hiện chính sách hiệu quả. Đồng thời, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ người dân tộc thiểu số, về quản lý hành chính, xây dựng chính sách, kỹ năng làm việc với cộng đồng đa dạng văn hóa.

Khuyến khích phát triển đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, am hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào, có khả năng làm cầu nối giữa chính quyền và Nhân dân.

Bốn là, đẩy mạnh phân cấp, tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần được phân cấp rõ ràng, gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cấp chính quyền, đặc biệt là cấp cơ sở - nơi trực tiếp tổ chức triển khai và tiếp xúc với người dân. Chính quyền địa phương cần được trao thêm quyền chủ động trong việc thiết kế giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương, đồng thời chịu trách nhiệm giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc một cách công khai, minh bạch.

Năm là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và cơ chế giám sát, đánh giá.

Cần phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu số về dân tộc thiểu số, giúp việc hoạch định chính sách và theo dõi thực hiện chính sách trở nên chính xác, kịp thời. Đồng thời, xây dựng cơ chế giám sát độc lập, có sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng dân tộc thiểu số trong việc đánh giá hiệu quả chính sách.

Sáu là, phát huy vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong xây dựng và giám sát chính sách.

Đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn cần được coi là chủ thể tích cực trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách. Cần tạo điều kiện để người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định, phản biện và đóng góp ý kiến về các chương trình, dự án liên quan đến cộng đồng mình.

2.5. Những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên mới

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tuy nhiên, trong bối cảnh kỷ nguyên mới với những biến chuyển sâu sắc về kinh tế, xã hội, công nghệ và môi trường, chính sách dân tộc vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức và yêu cầu cấp thiết phải được giải quyết nhằm tiếp tục phát huy hiệu quả, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ nhất, tình trạng chênh lệch phát triển và khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, các dân tộc vẫn còn lớn.

Thứ hai, nguy cơ mai một, mất dần bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.

Thứ ba, thách thức về môi trường và biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống vùng dân tộc thiểu số.

Thứ tư, yêu cầu đổi mới tư duy và nâng cao năng lực thực thi chính sách dân tộc.

Thứ năm, thúc đẩy sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số vào quá trình phát triển.

3. Thảo luận

Chính sách dân tộc của Việt Nam từ trước đến nay luôn được đánh giá là một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đa dạng sắc tộc và địa hình phức tạp. Những thành tựu mà chính sách dân tộc đã đạt được trong suốt hơn ba thập kỷ qua không chỉ thể hiện sự tiến bộ rõ nét trong đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số mà còn góp phần bền vững vào sự ổn định chính trị - xã hội và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, sự vận động và biến đổi của xã hội trong kỷ nguyên mới cũng đặt ra những thách thức đa chiều, đòi hỏi những cách tiếp cận chính sách dân tộc cần có sự đổi mới căn bản và toàn diện. Vì vậy, cần tiếp tục quan tâm, nghiên cưu một số nội dung như sau:

Một là, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới. Kiên trì thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc, Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới và các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII, XIII; đồng thời xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị.

Hai là, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, lồng ghép, tích hợp các chính sách hiện hành để hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đổi mới phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 (Nguyễn Thế Tùng, Đỗ Thị Thạch, 2024).

Ba là, chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể Nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tăng cường phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số và khắc phục tình trạng không có tổ chức đảng và đảng viên ở các thôn, bản, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số ở những vùng trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tăng cường hoạt động của các mô hình tự quản tại cộng đồng; biểu dương, tôn vinh, động viên người tiêu biểu có uy tín, doanh nhân, nhà khoa học trong cộng đồng các dân tộc thiểu số có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân trong giải quyết vấn đề dân tộc. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân cần tích cực tham gia tuyên truyền, vận động các tầng lớp Nhân dân thực hiện chính sách dân tộc; phối hợp với các cấp chính quyền tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào xóa bỏ tập tục lạc hậu, xóa bỏ các tệ nạn xã hội; đi sâu nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào, nhất là đối với những người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, như: phụ nữ, người già, trẻ em, người nghèo (Nguyễn Thế Tùng &,. Đỗ Thị Thạch, 2024).

Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, chủ động xây dựng kế hoạch tham gia vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc phản biện chính sách và giám sát quá trình thực hiện. Trong tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, Mặt trận, các đoàn thể Nhân dân và chính quyền địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ và cần có biện pháp thực hiện nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt, nhân tố tích cực trong đồng bào dân tộc thiểu số (Nguyễn Thế Tùng &,. Đỗ Thị Thạch, 2024).

Tựu chung, chính sách dân tộc trong kỷ nguyên mới cần được tiếp cận theo hướng đa chiều, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực quản lý, với sự tham gia chủ động của đồng bào. Chỉ có như vậy, chính sách mới có thể thực sự trở thành công cụ hữu hiệu, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc và phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh hội nhập và biến đổi nhanh chóng của thế giới.

4. Kết luận

Chính sách dân tộc Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hơn ba thập kỷ qua, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội toàn diện. Việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách dân tộc không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là sự chung tay của toàn xã hội.

Chính vì vậy, chính sách dân tộc là một trong những trụ cột quan trọng góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững đất nước. Trong bối cảnh kỷ nguyên mới, việc tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp và nội dung chính sách dân tộc là yêu cầu tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia phồn vinh, hạnh phúc, trong đó không ai bị bỏ lại phía sau - đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội XIII. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Chính phủ. (2021). Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

3. Ủy ban Dân tộc (2023), Báo cáo công tác dân tộc năm 2022.

4. Nguyễn Văn Chính. (2022). “Chuyển đổi số và tác động tới vùng dân tộc thiểu số”. Tạp chí Dân tộc học, số 3.

5. Nguyễn Thị Hạnh. (2023). “Vấn đề bảo tồn văn hóa trong hội nhập ở vùng dân tộc thiểu số”. Tạp chí Văn hóa Việt Nam, số 5.

6. Hiến pháp năm 2013.

7. Nguyễn Quỳnh Hoa (2017). Chính sách dân tộc tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức cần vượt qua, https://tcnn.vn/news/detail/37031/Chinh_sach_dan_toc_tai_Viet_Nam_Thanh_tuu_va_thach_thuc_can_vuot_quaall.html

8. Khánh Linh. (2025). Tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số vượt kế hoạch. https://daidoanket.vn/ty-le-giam-ngheo-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-vuot-ke-hoach-10315038.html#:~:text=B%C3%A1o%20c%C3%A1o%20c%E1%BB%A7a%20Ban%20Ch%E1%BB%89,ti%C3%AAu%20tr%C3%AAn%203%25%20%C4%91%E1%BB%81%20ra.

9. Nguyễn Thế Tùng &,. Đỗ Thị Thạch. (2024). Một số quan điểm, nguyên tắc trong giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc ở Việt Nam. https://lyluanchinhtri.vn/mot-so-quan-diem-nguyen-tac-trong-giai-quyet-van-de-dan-toc-quan-he-dan-toc-o-viet-nam-6541.html