1. Nguồn lực xã hội của tôn giáo - nhìn từ góc độ kinh tế
Một cách nhìn rộng vai trò của tôn giáo đối với xã hội, hay nói cách khác là nguồn lực xã hội của tôn giáo rất lớn và cũng rất đa dạng. Tôn giáo là nguồn nhân lực xã hội có tổ chức; tôn giáo là nguồn lực về văn hóa, đạo đức, tôn giáo là nguồn lực về tâm linh, tinh thần; tôn giáo là nguồn lực về trí tuệ,… Và, tôn giáo là nguồn lực kinh tế.
Kinh tế - một định nghĩa chung nhất là tổng thể những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, là những hoạt động liên quan đến lợi ích của con người, là những tác dụng mang lại hiệu quả cao so với sức người, sức của và thời gian bỏ ra. Từ định nghĩa này, kinh tế còn được hiểu rộng ra là sản phẩm vật chất, là sức lao động, là trí thức, là các dịch vụ xã hội, là tinh thần cần cù lao động và lối sống tiết kiệm.
Với định nghĩa và mở rộng định nghĩa như trên, tôn giáo có quan hệ nhiều đối với kinh tế, hay nói cách khác là tôn giáo có vai trò rất quan trọng đối với kinh tế.
Trước hết, tôn giáo với tính chất một thực thể xã hội, một cộng đồng đông đảo nên tôn giáo trong mối quan hệ với kinh tế chính là sức lao động xã hội. Điều quan trọng là tín đồ các tôn giáo có đức tin và các tôn giáo đều răn dạy sự cần cù lao động, lao động chính đáng để tồn tại. Như vậy, tôn giáo là sức lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
Các tôn giáo với đặc trưng trong quá trình tồn tại luôn có các yếu tố: tín đồ (người theo tôn giáo), chức sắc (người hướng dẫn hoạt động tôn giáo) và đặc biệt là tổ chức (bộ máy hành chính - một thiết chế quyền lực của tôn giáo). Chính điều này, tôn giáo không chỉ tạo ra một thực thể xã hội mà còn là nơi hội tụ, tích lũy và nuôi dưỡng các trí thức. Như vậy, tôn giáo còn là nguồn lực về trí thức cho phát triển kinh tế, rộng ra là cho xã hội. Các tôn giáo trong quá trình tồn tại và phát triển, trước hết là phục vụ cho nhu cầu của mình, rồi cùng với thời gian, đã hình thành các cơ sở đào tạo, không chỉ giáo dục phổ thông mà cả giáo dục đại học, hình thành hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập của các tôn giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo một số liệu không chính thức, hiện nay ở Mỹ, tôn giáo chiếm hơn 50% giáo dục ngoài công lập (Tin Lành 32%, Công giáo 20%), mà ngoài công lập ở Mỹ là chủ yếu; ở Nhật, tôn giáo chiếm 30% hệ thống giáo dục và đào tạo; Ở Indonesia có đến hơn hơn 34% hệ thống giáo dục thuộc Hồi giáo,… Các tôn giáo trong mối quan hệ với kinh tế còn được quan tâm từ góc độ các hoạt động xã hội, nhất là từ thiện nhân đạo mà các tôn giáo rất chú trọng thực hiện. Thực hiện những hoạt động này bắt nguồn từ răn dạy của giáo lý, giáo luật của các tôn giáo. Các tôn giáo trong quá trình tồn tại, phát triển từ lâu đã hình thành những hệ thống hoạt động từ thiện xã hội, những cơ sở y tế, giáo dục với quy mô lớn. Riêng ở Mỹ, đóng góp đối với xã hội của các tôn giáo ngang với thu thuế của các tập đoàn kinh tế lớn, như: Microsoft, Google, Facebook, Amazon, Boing,… khoảng 12 nghìn tỷ Đôla/năm!
Một số tôn giáo liên quan trực tiếp đến kinh tế còn là những quan niệm và tư duy kinh tế mà các tôn giáo đã tạo ra. Max Weber, nhà xã hội học người Đức đã đánh giá rất cao tư duy kinh tế của đạo Tin Lành - một tôn giáo ra đời cùng với quá trình tích lũy nguyên thủy và sự hình thành phương thức sản xuất, kinh doanh của chủ nghĩa tư bản. Người Tin Lành có phương châm sống: bằng mọi cách để làm giàu nhưng cũng bằng mọi cách để tiết kiệm; nếu chọn ăn ngon và ngủ yên, người Tin Lành chọn ăn ngon vì muốn ăn ngon phải lao động,... Những người Hồi giáo đã biết đến kinh doanh và đạo lý làm giàu được kế thừa của những cư dân vùng Trung Cận Đông - Bán đảo Ả-rập từ xa xưa,...
Cũng cần phải nói thêm, riêng lĩnh vực sản xuất và kinh doanh, các tôn giáo với đức từ bi của Phật giáo, tình yêu thương của Ki-tô giáo, sự khoan dung của Hồi giáo,… nên những nhà sản xuất, những cơ sở kinh doanh là tín đồ các tôn giáo thường nghiêm túc, lấy chữ tín làm trọng, ít trường hợp lừa dối, phi pháp vì họ cho rằng đó là tội lỗi phải gánh chịu ở đời sau, từ đó hình thành đạo đức trong sản xuất, kinh doanh. Trên thực tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh của người có tôn giáo thường có chất lượng và uy tín.
2. Các tôn giáo ở Việt Nam và các hoạt động liên quan đến kinh tế
Như trên đã trình bày, tôn giáo có nhiều góc độ liên quan đến kinh tế, hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp. Ở Việt Nam, từ rất lâu, các tôn giáo đã có quan hệ với kinh tế trên nhiều phương diện, nhất là về y tế, giáo dục và từ thiện nhân đạo. Chỉ riêng về y tế, trước đây, các tôn giáo đều hình thành cơ sở y tế khám chữa bệnh, thậm chí có cả các cơ sở bệnh viện, trạm y tế có quy mô lớn, như bệnh viện (nhà thương): Phủ Doãn, Saint Paul,... Riêng ở miền Nam, trước 1975, có 41 cơ sở y tế và từ thiện xã hội của các tôn giáo, như: Trại phong Quy Hòa (Công giáo), Trại phong Ban Mê Thuột, Trại phong Đà Lạt (Hội thánh Tin Lành Việt Nam - miền Nam), Bệnh viện Cơ đốc (Cơ đốc Phục lâm),… Đó là chưa kể hàng trăm cơ sở từ thiện chủ yếu là trại mồ côi, trại dưỡng lão và các phòng thuốc Nam của các tôn giáo. Đặc biệt về giáo dục, trước đây, các tôn giáo ở Việt Nam đều tham gia hoạt động giáo dục. Ở miền Bắc, trước năm 1954, có trường Am-be Sa-rô nổi tiếng ở Hà Nội. Ở miền Nam trước năm 1975, các tôn giáo đã có 05 trường đại học với quy mô lớn, như: Đại học Vạn Hạnh của Phật giáo, Đại học Công giáo Đà Lạt, Đại học Minh Đức của Công giáo, Đại học Cao Đài của Hội thánh Cao Đài Tây Ninh, Đại học Hòa Hảo của Phật giáo Hòa Hảo. Đó là chưa kể hàng nghìn ngôi trường phổ thông thường gắn với các cơ sở thờ tự của tôn giáo. Chỉ tính riêng Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) với gần 180 nghìn tín đồ có đến 142 trường tiểu học và trung học với 50.000 học sinh hằng năm, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam với trên dưới 15 nghìn tín đồ có đến 18 trường tiểu học và trung học, 20 cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi...
Tuy nhiên, ở miền Bắc sau 1954, ở miền Nam sau năm 1975, hầu hết các cơ sở nói trên đều công hữu (quốc hữu hóa) cùng với các chương trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Các hoạt động về xã hội, từ thiện xã hội của các tôn giáo hầu như không thực hiện, nếu có thì cầm chừng ở một số cơ sở, không trở thành nội dung hoạt động của các tổ chức tôn giáo.
Bước vào thời kỳ đổi mới, với cách nhìn mới về tôn giáo và vai trò của tôn giáo của Đảng và Nhà nước, trong đó có việc mở ra đối với một số hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo, cho đến nay, chưa có thống kê cùng những đánh giá chuyên biệt về hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo ở Việt Nam. Tuy nhiên, Ban Tôn giáo Chính phủ đã có những số liệu bước đầu của từng tôn giáo ở những khoảng thời gian khác nhau.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức tôn giáo có số lượng tín đồ, chức sắc lớn nhất và có phạm vi hoạt động trên các địa phương của cả nước. Hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam bao gồm các lĩnh vực, như: hoạt động về y tế, giáo dục, các hoạt động trong lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội và chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc người bị chất độc màu da cam. Quá trình tham gia hoạt động từ thiện xã hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam được đánh giá theo từng nhiệm kỳ đại hội. Nhiệm kỳ VIII (2017-2022): Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phát huy tính tích cực hoạt động trên nhiều lĩnh vực và đạt được những thành tựu lớn với tổng giá trị cứu trợ hơn 7.100 tỷ đồng. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh đóng góp trong công tác cứu trợ 3.500 tỷ đồng.
Hiện nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 165 Tuệ Tĩnh đường, 33 phòng khám Đông y châm cứu, bấm huyệt, vật lý trị liệu, 10 phòng khám Tây y đang hoạt động có hiệu quả, khám và phát thuốc miễn phí hàng chục tỷ đồng; có 10 trường dạy nghề miễn phí gồm các nghề may, thêu, đan, điện gia dụng, tin học, ngoại ngữ, mộc mỹ nghệ, sửa xe, cắt tóc...; 120 lớp học tình thương; 110 cơ sở được cấp phép nuôi dạy trẻ mẫu giáo bán trú, trẻ mồ côi, khuyết tật, trẻ em bị chất độc màu da cam; 15 cơ sở nuôi dưỡng hơn 500 cụ già cô đơn; 01 trung tâm phục hồi chức năng.
Cũng như Phật giáo, Công giáo là tôn giáo lớn có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Hoạt động từ thiện xã hội của Công giáo chứa đựng nội dung bác ái. Hoạt động từ thiện xã hội của Công giáo ở Việt Nam được triển khai ở cả hai tuyến: giáo hội và các dòng tu, vừa với tư cách cá nhân vừa với tư cách tổ chức. Cả nước có 635 cơ sở hoạt động từ thiện xã hội, bảo trợ xã hội do Công giáo đảm nhận. Cùng với đó, các mô hình hỗ trợ tình thương của Công giáo đã và đang được vận hành xuyên suốt; nhiều dòng tu nuôi dạy hàng chục trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, người già neo đơn; hỗ trợ chăm sóc y tế cho bệnh nhân, điển hình như: Cô nhi viện Thánh An Bùi Chu, Dòng Ảnh phép lạ, Dòng Trợ thế Thánh Gioan…
Các tôn giáo khác, nếu so với Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Tin Lành có số lượng tín đồ ít hơn và mới được tăng trưởng trong thời gần đây. Tuy nhiên, nếu xét về các hoạt động từ thiện xã hội, đạo Tin Lành có quá trình gắn với sự phát triển của tôn giáo này ở Việt Nam. Theo báo cáo không chính thức của Ban Tôn giáo Chính phủ, mỗi năm các tổ chức Tin Lành huy động từ thiện khoảng 12-15 tỷ đồng. Ngoài ra, các tổ chức Tin Lành còn quan tâm xây dựng các công trình liên quan đến đời sống của người dân, như xây cầu, làm đường, khoan giếng,… Một số tổ chức Tin Lành thành công trong việc cai nghiện ma túy tại nhiều cơ sở cai nghiện ở Hà Nội.
Đạo Cao Đài là tôn giáo lớn hoạt động chủ yếu ở Nam Bộ, một số ở miền Trung và miền Bắc. Từ khi được công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức, các Hội thánh Cao Đài và tổ chức Cao Đài tích cực triển khai các hoạt động từ thiện xã hội, cứu trợ kịp thời thiên tai, lũ lụt, tổ chức bếp cơm từ thiện, phát cơm thường nhật đến bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, lập cơ sở cơm chay phục vụ miễn phí cho công nhân lao động nghèo, cấp hòm và giúp đỡ toàn bộ phương tiện cho lễ tang người nghèo neo đơn, đóng góp xây dựng nhà tình thương, nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng,... với tổng giá trị gần 500 tỷ đồng. Đặc biệt, trong thời gian dịch COVID-19, các Hội thánh Cao Đài và tổ chức Cao Đài đã ủng hộ gần 200 tỷ đồng cho đồng bào, đồng đạo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Phật giáo Hòa Hảo sau khi được thành lập năm 1999, vừa củng cố tổ chức để xây dựng Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo triển khai ngay các hoạt động từ thiện xã hội. Các hoạt động từ thiện xã hội trong nhiệm kỳ qua đạt nhiều kết quả nổi bật, đồng bào Phật giáo Hòa Hảo đóng góp gần 2.500 tỷ đồng thực hiện các hoạt động từ thiện xã hội như: sửa chữa, xây mới nhà tình thương, nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo với số tiền hơn 327 tỷ đồng, sửa chữa, xây mới cầu nông thôn với số tiền hơn 546 tỷ đồng, ủng hộ Quỹ “Cây mùa Xuân” hơn 30 tỷ đồng, các bếp ăn tình thương hơn 523 tỷ đồng, tặng người nghèo hơn 326 tỷ đồng.
Các tôn giáo khác như Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa,… cũng rất tích cực tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với tính chất của những tôn giáo này, trong đó nổi bật là những hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Những hoạt động từ thiện xã hội nói trên của các cá nhân, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian vừa qua đã hỗ trợ quan trọng với Nhà nước trong việc giải quyết gánh nặng về kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội của một nước vừa trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài, lại phải đối diện với những vấn đề xã hội mới nảy sinh. Hoạt động từ thiện xã hội là một trong những nét khá nổi bật của các tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. Đó chính là mối quan hệ tôn giáo với kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
3. Chủ trương, chính sách và những quy định pháp luật về nguồn lực tôn giáo - Một số kiến nghị
Bước vào thời kỳ đổi mới, ở Việt Nam, các tôn giáo được khích lệ bằng chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước qua Nghị quyết số 24/NQ-TW năm 1990, là “Nhìn nhận và phát huy những giá trị về đạo đức và văn hóa của tôn giáo”. Sau này, Nghị quyết số 25/NQ-TW năm 2003 chỉ rõ thêm: “Giải quyết việc tôn giáo thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… của Nhà nước theo nguyên tắc: Khuyến khích các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia phù hợp với chức năng, nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật. Cá nhân tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành tham gia với tư cách công dân thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị định số 69/HĐBT, ngày 21/3/1991 Quy định về hoạt động tôn giáo đã cụ thể hóa việc hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo. Điều 15 quy định: “Các chức sắc, nhà tu hành được hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội như mọi công dân khác. Việc tổ chức lao động sản xuất, làm dịch vụ để cải thiện đời sống tại nơi tu hành, hoặc để xây dựng quỹ bảo dưỡng, trùng tu nơi thờ tự thì được khuyến khích và theo đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
Quá trình xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, mặc dù, đã được bàn khá cụ thể về việc tôn giáo tham gia hoạt động xã hội, trong đó có lĩnh vực y tế và giáo dục nhưng cuối cùng vẫn chỉ đưa ra nguyên tắc mở: “Được tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan” (Điều 55). Các tôn giáo cũng như xã hội đang chờ đợi các luật có liên quan với những vấn đề y tế, giáo dục, từ thiện xã hội sẽ được điều chỉnh trong thời gian tới đây theo nguyện vọng của các tôn giáo và quan điểm đổi mới của Đảng về tôn giáo và chính sách tôn giáo.
Như vậy, việc xã hội hóa các hoạt động từ thiện xã hội, hay nói cách khác mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế của tôn giáo ở Việt Nam từ khi đổi mới đã có những chuyển biến quan trọng. Để tiếp tục phát huy nguồn lực của tôn giáo, có một số kiến nghị cụ thể như sau:
Một là, tiếp tục khẳng định quan điểm chủ trương, Nghị quyết của Đảng: “Nhìn nhận và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo” và khẳng định tôn giáo là một nguồn lực xã hội đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Hai là, trong chính sách và các quy định pháp luật có liên quan cần được “định lượng” các hoạt động về y tế, giáo dục, an sinh xã hội của tôn giáo một cách cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, cả từ phía tôn giáo, xã hội và hệ thống chính trị.
Ba là, ngoài quy định pháp luật, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ với các tổ chức tôn giáo thực hiện các chương trình, kế hoạch hoạt động xã hội cụ thể, như chính sách đất đai, cơ sở vật chất, đào tạo chuyên môn,… và cả sự hợp tác với các tổ chức tôn giáo quốc tế.
Bốn là, trong hệ thống chính trị cần giải tỏatâm lý nghi ngại cho rằng “mở ra” để tôn giáo tham gia hoạt động xã hội, nhấtlà về y tế, giáo dục sẽ là cơ hội truyền giáo, rằng sẽ tạo ra và tăng thêm vịthế để tôn giáo “lấn lướt” và thách đố với Nhà nước.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Tôn giáo Chính phủ (1995), Các văn bản của Nhà nước về hoạt động tôn giáo, Hà Nội.
2. Ban Tôn giáo Chính phủ (2015), Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
3. Catherine L. Albanese (2012), Các tôn giáo, tín ngưỡng ở Mỹ, Nxb. Thời đại, Hà Nội.
4. Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (USSH) (2018), Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tôn giáo với kinh tế, Hà Nội.
5. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (2017), Kỷ yếu hội thảo khoa học - Phát huy vai trò của Phật giáo tham gia xã hội hóa công tác từ thiện, xã hội, Kiên Giang.
6. Hội đồng Lý luận Trung ương và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2018), Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển đất nước hiện nay (Kỷ yếu Khoa học), Hà Nội.
7. Murakami Shigeyoshi (2007), Tôn giáo Nhật Bản, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
8. Max Weber (2010), Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản, Nxb. Trí thức, Hà Nội.
9. Nguyễn Thanh Xuân (2015), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.