Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Công tác dân tộc trong kỷ nguyên mới

TS. Phú Văn Hẳn - 10:53, 09/02/2026

(DTTG) - Công tác dân tộc hiện nay cần được nhìn nhận như động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng hiện đại, gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo đảm quốc phòng - an ninh và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế.

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây không chỉ là lĩnh vực mang tính nhân văn, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, mà còn là trụ cột của phát triển bền vững, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc. Công tác dân tộc hiện nay cần được nhìn nhận như động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng hiện đại, gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo đảm quốc phòng - an ninh và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế. Việc đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, phát huy nội lực cộng đồng và ứng dụng khoa học và công nghệ là yêu cầu cấp thiết nhằm khẳng định vị trí, vai trò của công tác dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ khóa: Công tác dân tộc; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


Chính sách dân tộc trong kỷ nguyên mới cần lấy con người làm trung tâm và văn hóa làm nền tảng. Vào ngày 9/11/2025, cả nước đã đồng loạt khởi công xây dựng 72 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Đây là sự kiện đặc biệt quan trọng để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số. Trong ảnh: Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung phát biểu tại lễ khởi công xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp tại tỉnh Sơn La.
Chính sách dân tộc trong kỷ nguyên mới cần lấy con người làm trung tâm và văn hóa làm nền tảng. Vào ngày 9/11/2025, cả nước đã đồng loạt khởi công xây dựng 72 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Đây là sự kiện đặc biệt quan trọng để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số. Trong ảnh: Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung phát biểu tại lễ khởi công xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp tại tỉnh Sơn La.


1. Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Ngay từ khi ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc. Đồng thời là nhân tố then chốt trong củng cố khối đại đoàn kết dân tộc - nền tảng vững chắc cho mọi thắng lợi của cách mạng. Bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, công tác dân tộc (CTDT) càng thể hiện rõ vai trò không thể thay thế trong việc đảm bảo công bằng xã hội, phát triển bền vững và giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đang đứng trước thời cơ lớn nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức: chênh lệch phát triển, biến đổi khí hậu, di cư lao động, suy giảm văn hóa truyền thống và yêu cầu hội nhập toàn cầu.

Do đó, nghiên cứu, đánh giá đúng vị trí và vai trò của CTDT trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp thiết, không chỉ nhằm khẳng định tầm quan trọng của lĩnh vực này trong chiến lược phát triển đất nước mà còn hướng tới đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý, hoàn thiện chính sách, phát huy nội lực cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS). Qua đó, CTDT cần được nhìn nhận như một trụ cột trong chiến lược “vươn mình” phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc và hội nhập của dân tộc Việt Nam.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về công tác dân tộc và phát triển quốc gia

CTDT được hiểu là những hoạt động của lĩnh vực dân tộc, nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, thực hiện nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân dân tộc thiểu số. Cơ sở khoa học hình thành quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng về vấn đề dân tộc, đại đoàn kết toàn dân tộc. Về bản chất, CTDT không chỉ là việc thực thi các chính sách đối với đồng bào DTTS, mà còn là quá trình tổ chức, huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của các cộng đồng tộc người nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng xã hội tiến bộ. Vận dụng sáng tạo trong điều kiện Việt Nam, Đảng ta xác định CTDT gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, củng cố lòng tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước, hướng tới mục tiêu “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Như vậy, CTDT mang cả ý nghĩa chính trị, xã hội, văn hóa và nhân văn sâu sắc, vừa là nội dung, vừa là động lực của phát triển quốc gia.

Trong bối cảnh hiện nay, lý luận về CTDT được mở rộng trên cơ sở tiếp cận phát triển bền vững và quản trị hiện đại. Các yếu tố như phát triển con người, bảo tồn văn hóa, chuyển đổi số, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng cường quyền tham gia của cộng đồng được xem là nội dung cốt lõi của CTDT. Việc gắn kết CTDT với chiến lược phát triển quốc gia không chỉ bảo đảm công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách vùng miền mà còn góp phần củng cố sức mạnh nội sinh, tạo nền tảng cho một xã hội đa dạng, hài hòa và thống nhất trong mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Như vậy, xét trên bình diện lý luận, CTDT là một trụ cột của quản lý nhà nước về phát triển, là biểu hiện sinh động của đường lối “lấy con người làm trung tâm” trong quá trình vươn mình của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

2.2. Vai trò của công tác dân tộc trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình phát triển đất nước, CTDT giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và tạo động lực cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế. Trong kỷ nguyên mới, khi Việt Nam đang vươn mình mạnh mẽ với khát vọng phát triển phồn vinh, hùng cường, CTDT không chỉ dừng lại ở việc thực hiện chính sách ưu tiên, hỗ trợ vùng đồng bào DTTS&MN, mà đã trở thành một trụ cột của phát triển bền vững, mang tầm chiến lược quốc gia.

Thứ nhất, CTDT là nhân tố cốt lõi củng cố sức mạnh nội sinh của quốc gia. Việc bảo đảm quyền bình đẳng, tôn trọng bản sắc văn hóa và tạo điều kiện cho đồng bào các DTTS tham gia vào tiến trình phát triển giúp khơi dậy tiềm năng con người, biến sự đa dạng văn hóa thành nguồn lực mềm phục vụ hội nhập và sáng tạo. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn xã hội.

Thứ hai, CTDT góp phần trực tiếp vào mục tiêu phát triển bền vững và giảm nghèo đa chiều. Thông qua các chương trình, dự án quốc gia như Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, Nhà nước không chỉ đầu tư hạ tầng, nâng cao đời sống đồng bào mà còn thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, gắn phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường.

Thứ ba, trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, CTDT đóng vai trò cầu nối giữa truyền thống và hiện đại. Việc ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý, giáo dục, phát triển du lịch và nông nghiệp giúp các vùng đồng bào DTTS&MN tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc gia, thậm chí toàn cầu, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển vùng miền.

Vì vậy, CTDT không chỉ là chính sách mang tính nhân văn mà còn là chiến lược phát triển mang tầm tư tưởng, tạo nền tảng cho sự “vươn mình” của dân tộc Việt Nam, nơi sức mạnh đa dạng văn hóa được chuyển hóa thành nội lực để đất nước hội nhập và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

2.3. Vị trí chiến lược của công tác dân tộc trong phát triển đất nước hiện nay

Trong tiến trình phát triển quốc gia, CTDT không chỉ là một bộ phận của chính sách xã hội mà còn mang tầm chiến lược, gắn chặt với mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Vị trí của CTDT ngày càng được khẳng định rõ nét trong tư duy phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xem đây là nhân tố then chốt bảo đảm ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Một là, CTDT giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong củng cố sức mạnh nội sinh và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, nơi mỗi cộng đồng mang trong mình bản sắc văn hóa, tri thức và tiềm năng phát triển riêng. Việc quan tâm, phát huy vai trò của đồng bào DTTS không chỉ thể hiện tính nhân văn sâu sắc mà còn góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, yếu tố quan trọng bảo đảm sự ổn định và đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh biến động toàn cầu.

Hai là, CTDT đóng vai trò định hướng phát triển vùng miền, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thúc đẩy công bằng xã hội. Các chính sách dân tộc, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, đã trở thành động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, từ đó góp phần phát triển hài hòa trên phạm vi cả nước.

Ba là, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, CTDT có vị trí chiến lược trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc - một “sức mạnh mềm” quan trọng của quốc gia. Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn truyền thống với đổi mới sáng tạo giúp văn hóa các DTTS trở thành nguồn lực phát triển du lịch, giáo dục và kinh tế tri thức.

Như vậy, CTDT ngày nay không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ, bao cấp, mà là chiến lược toàn diện, vừa bảo đảm an sinh, vừa kiến tạo động lực phát triển. Đây là một cấu phần trọng yếu trong chiến lược phát triển đất nước bền vững, góp phần khẳng định vị thế, bản lĩnh và sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình và hội nhập sâu rộng với thế giới.

2.4. Những thách thức và yêu cầu đặt ra

Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc khi Việt Nam bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, CTDT đang đứng trước những thách thức to lớn đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và năng lực thích ứng cao.

Thứ nhất, khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào DTTS&MN với vùng đồng bằng, đô thị vẫn là vấn đề nổi bật và mang tính hệ thống. Sự chênh lệch về hạ tầng, giáo dục, y tế, cơ hội việc làm và tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản đang cản trở tiến trình phát triển đồng đều và bền vững. Đây không chỉ là thách thức về kinh tế - xã hội mà còn là vấn đề về công bằng, ổn định và đoàn kết quốc gia.

Thứ hai, toàn cầu hóa và chuyển đổi số đặt CTDT trước những biến đổi sâu sắc về không gian văn hóa, kinh tế và tri thức. Dòng chảy mạnh mẽ của kinh tế thị trường, truyền thông số và các giá trị toàn cầu vừa tạo điều kiện để đồng bào DTTS tham gia sâu hơn vào đời sống hiện đại, vừa tiềm ẩn nguy cơ mai một bản sắc văn hóa, tri thức địa phương và ngôn ngữ truyền thống. Hài hòa giữa hội nhập và bảo tồn, giữa phát triển kinh tế và giữ gìn căn tính văn hóa là một yêu cầu cấp thiết trong hoạch định chính sách dân tộc hiện nay.

Thứ ba, yêu cầu đổi mới mô hình quản lý nhà nước về CTDT theo hướng hiện đại, hiệu quả và gắn kết với các mục tiêu phát triển bền vững ngày càng rõ nét. Ứng dụng chuyển đổi số, dữ liệu lớn và khoa học công nghệ trong quản lý, theo dõi, đánh giá chính sách dân tộc là xu thế tất yếu nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả điều hành.

Thứ tư, nguồn nhân lực làm công tác dân tộc vẫn còn hạn chế cả về số lượng, chất lượng và kỹ năng thích ứng với bối cảnh mới. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, hiểu biết sâu sắc về văn hóa - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, đồng thời có tư duy toàn cầu và khả năng vận dụng linh hoạt khoa học quản trị hiện đại. Đây chính là yếu tố then chốt bảo đảm CTDT thực sự trở thành trụ cột trong chiến lược phát triển bền vững và hội nhập của quốc gia.

2.5. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân tộc

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới toàn diện, CTDT cần được định hướng theo tư duy phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm và văn hóa làm nền tảng. Trước hết, cần khẳng định CTDT là một nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, phải được tích hợp đồng bộ trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Việc hoạch định chính sách cần dựa trên nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”, hướng đến thu hẹp khoảng cách vùng miền và nâng cao chất lượng sống của đồng bào DTTS.

Về giải pháp, trước hết cần hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp liên ngành, bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả trong triển khai chính sách dân tộc. Đầu tư phát triển hạ tầng, đặc biệt là giao thông, giáo dục, y tế và chuyển đổi số vùng đồng bào DTTS&MN phải được xem là khâu đột phá, tạo tiền đề cho phát triển bền vững. Đồng thời, cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc có bản lĩnh chính trị, chuyên môn sâu và năng lực thích ứng với xu thế hội nhập quốc tế.

Song song đó, phát huy nội lực của cộng đồng DTTS thông qua các mô hình phát triển kinh tế xanh, du lịch cộng đồng và khởi nghiệp văn hóa cần được xem là trọng tâm. Cuối cùng, CTDT trong kỷ nguyên mới phải gắn với chuyển đổi số, quản trị hiện đại và hợp tác quốc tế, nhằm xây dựng vùng đồng bào DTTS&MN thực sự trở thành không gian phát triển năng động, bền vững và giàu bản sắc Việt Nam.

3. Thảo luận

CTDT trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không chỉ là một trụ cột trong chính sách phát triển quốc gia, mà còn là thước đo năng lực quản trị xã hội theo hướng bao trùm và nhân văn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề dân tộc không chỉ dừng lại ở việc xóa đói giảm nghèo hay phát triển kinh tế vùng đặc thù, mà đã trở thành nội dung trọng yếu trong bảo tồn bản sắc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và đảm bảo công bằng xã hội. Đặt CTDT trong mối quan hệ với phát triển bền vững quốc gia cho thấy yêu cầu cần thiết phải chuyển từ tư duy “hỗ trợ” sang tư duy “trao quyền”, từ “phát triển vì đồng bào” sang “phát triển cùng đồng bào”.

Một thách thức lớn hiện nay là làm sao để chính sách dân tộc vừa phù hợp với đặc thù văn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và chuyển đổi số. Điều đó đòi hỏi sự đổi mới trong phương thức quản lý nhà nước, trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào DTTS&MN, cũng như trong cách tiếp cận giáo dục, khoa học và công nghệ. CTDT cần được nhìn nhận như một động lực nội sinh, góp phần hình thành “bản lĩnh văn hóa quốc gia” trong quá trình hội nhập.

Do đó, việc nghiên cứu, hoạch định và thực thi công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong giai đoạn mới cần gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia để mọi giá trị của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng hòa quyện trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước.

4. Kết luận

CTDT giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển quốc gia, là nền tảng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn sức mạnh nội sinh quyết định sự trường tồn và hưng thịnh của đất nước. Trong kỷ nguyên hội nhập và chuyển đổi mạnh mẽ hiện nay, CTDT không chỉ là chính sách mang tính nhân văn, mà còn là động lực thúc đẩy tăng trưởng bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm xã hội. Việc nâng cao hiệu quả công tác dân tộc đòi hỏi sự đổi mới toàn diện về tư duy, thể chế và phương thức thực thi, hướng tới mô hình phát triển bao trùm, coi cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể sáng tạo, đồng hành cùng dân tộc trong tiến trình hiện đại hóa. Khi CTDT được đặt đúng vị trí và phát huy đầy đủ vai trò, đó chính là biểu hiện sinh động của một quốc gia thống nhất trong đa dạng, bền vững trong phát triển và tự tin vươn mình, hội nhập.

Tài liệu tham khảo

1. Báo cáo số 68/BC-BCĐTW ngày 4/9/2019 của Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc (Nghị quyết số 24-NQ/TW).

2. Chỉ thị số 1971/CT-TTg ngày 27/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

3. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, Tập 5, Tập 12. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Giàng Seo Phử. (2016). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về công tác dân tộc qua 30 năm đổi mới. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.

5. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

6. Nghị định số 127/NĐ-CP ngày 10/10/2024 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

7. Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020.

8. Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 14/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện công tác dân tộc đến năm 2020.