Chùa Đất Sét ở Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ) là cơ sở thờ tự thuộc hệ phái Bửu Sơn Kỳ HươngTừ khóa: Bửu Sơn Kỳ Hương; Phật Thầy Tây An; Nam Bộ; Học Phật, tu Nhân; Tứ đại trọng ân; Tôn giáo nội sinh.
1. Đôi nét về đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên khai lập năm 1849, sau này, dân chúng tôn xưng là Đức Phật Thầy Tây An. Hoàn cảnh ra đời đạo trong một bối cảnh chính trị - xã hội đặc biệt. Vào giữa thế kỷ XIX, ở miền Tây Nam Bộ, thiết chế phong kiến chưa bám rễ vững chắc, vùng đất hoang dã mới được khai phá, dân cư từ “tứ xứ” đến đây lập nghiệp, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh, chết chóc hoành hành đã làm xáo động xã hội và nhân tâm cả một vùng biên ải Tây Nam. Trước tình hình ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ làng Tòng Sơn, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) vào Tràm Dư, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay thuộc tỉnh An Giang) trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có hiệu quả, ông đã cảm hóa được nhiều bệnh nhân và người thân của họ, giảng giải cho họ biết những điều nhân nghĩa, hiếu thảo với mẹ cha, kính thờ Trời, Phật. Số người tin theo ông ngày càng đông, nên ngay vào năm 1849, ông sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến năm 1856, ông đến vùng đất phía Tây Thất Sơn và Láng Linh dựng chùa, lập trại ruộng và đi dạo khắp vùng miền này. Danh từ Bửu Sơn Kỳ Hương cũng được truyền ra từ khi ông về ở núi Sam, Châu Đốc, An Giang.
Hiện nay, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng 10.000 tín đồ, chủ yếu tập trung ở các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Long An (nay là Tây Ninh), Sóc Trăng (nay là Cần Thơ), Vĩnh Long và Thành phố Hồ Chí Minh. Do truyền thống của đạo là không hình thành tổ chức giáo hội, không có hàng ngũ chức sắc, mà chỉ có trên là Phật Thầy Tây An, dưới hàng đệ tử, tín đồ. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có 08 cơ sở (chùa, đền, miếu) đã được Nhà nước công nhận ở các tỉnh: Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Long An (nay là Tây Ninh), Sóc Trăng (nay là Cần Thơ) về mặt tổ chức với mô hình Ban Trị sự chùa hoặc Ban Quản tự.
2. Đặc điểm của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
Một trong những đặc điểm nổi bật có tính bao quát toàn bộ giáo lý cũng như hoạt động thực tiễn của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là tính nhân văn. Đó là đạo lý làm người, một người sinh ra, lớn lên phải sống sao cho xứng đáng là một con người, phải biết sống có trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, biết tri ân và báo ân. Toàn bộ hệ thống tư tưởng lớn ấy được thể hiện một cách bình dị, đơn giản trong giáo lý và gần gũi với cuộc sống đời thường.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương khuyên người dân “học Phật, tu Nhân”. Học Phật là noi theo gương Đức Phật với việc niệm trì danh hiệu Phật A-di-đà (Nam mô A-di-đà Phật). Tuy nhiên, trong quá trình thuyết giáo ông Đoàn Minh Huyên không coi việc học Phật là yếu tố cốt lõi, mà đây được xem là định hướng cho tín đồ hướng tới việc “tu Nhân”. Còn “tu Nhân” theo Bửu Sơn Kỳ Hương là tu phước, là thực hiện việc báo đáp “Tứ đại trọng ân”, đó là: ân trời Phật, ân quân vương, ân cha mẹ và ân sư phụ. Đạo lý làm người ở đây chính là sự kế thừa truyền thống tốt đẹp của Tổ tiên, của dân tộc. Đó là tinh thần đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống của những người nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long, là kết quả của một quá trình dài cư dân đồng bằng sông Cửu Long đã thực nghiệm, sống và trải qua nhiều cảnh đời, nhiều thế hệ tiếp nối của Tổ tiên từ miền Trung di dân vào. Kinh nghiệm đó được cha ông truyền lại, cùng với bối cảnh kinh tế - xã hội của nửa cuối thế kỷ XIX đã hun đúc người dân tại đây nhiều khát vọng.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lấy “ngũ đại giới cấm” làm giới luật, gồm: Cấm sát sinh, hại người, hại vật; Cấm tham lam, trộm cắp, hưởng thụ của phi nghĩa, không làm mà hưởng; Cấm tà dâm, trụy lạc; Cấm rượu chè, hút chích, ma túy, cờ bạc, đàn điếm, mê tín dị đoan, đồng bóng, bói toán; Cấm gian dối, vọng ngữ, châm chọc chia rẽ.
Về nghi lễ và cách thờ cúng, trong các chùa của Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ thờ tấm Trần Điều màu đỏ được treo trước tường chính điện, thể hiện tấm lòng từ bi bác ái, đoàn kết, yêu mến đồng bào, nhân loại. Màu đỏ tượng trưng cho máu mủ, sự đoàn kết của đồng bào. Sự trống không của biểu tượng, nhắc nhở người tu hành hướng nội, không dính mắc vào hình tướng bên ngoài. Điều này cực kỳ phù hợp với đời sống di động, thiếu thốn vật chất của cư dân thời bấy giờ. Trên bàn thờ bày hoa, nước lã, nhang, đèn, không có chuông, mõ. Chính sự đơn giản, bình dị trong sinh hoạt và hành đạo là sự thể hiện rõ nét đặc điểm của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương luôn quan tâm đến hoạt động y tế - xã hội như tích cực trong khám chữa bệnh cho dân chúng bằng những phương thuốc y học dân tộc từ đó giảng đạo, khuyên quần chúng làm nhiều việc thiện. Quan tâm đến việc khuyến khích dân chúng khai hoang lập ấp và phát triển nông nghiệp bởi chỉ “có thực mới vực được đạo”. Nếu dân chúng lâm vào cảnh bần cùng đói khổ, họ rất dễ làm liều và gây nên tội ác. Điều đáng chú ý là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương luôn cổ vũ tinh thần yêu nước. Trong thời kỳ đất nước bị áp bức bởi chế độ thực dân, đế quốc, hoạt động của các vị giáo chủ luôn gắn liền với nghĩa vụ cứu nước, giúp dân và sẵn sàng lên tiếng bênh vực đồng bào khi nhìn thấy cảnh bất công trong xã hội. Vì vậy, chính quyền Pháp thường theo dõi và tìm cách ngăn trở, thậm chí có lúc bắt giam, khủng bố các vị giáo chủ Đức Phật Thầy Tây An, các Đức Phật Trùm, Đức Bổn sư Ngô Lợi, cho đến sư vãi Bán Khoai.
Với một giáo thuyết, một hệ tư tưởng vừa mang tính nhân đạo, hàm chứa nhiều sức sáng tạo và mang đậm tính địa phương và tính dân tộc sâu sắc của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương nên được hưởng ứng nồng nhiệt của những người nông dân Nam Bộ. Bởi đạo Bửu Sơn Kỳ Hương xuất hiện đã làm thỏa mãn được nhiều khát vọng của họ. Chỉ riêng những bài sấm giảng bằng văn vần lục bát đã in đậm trong tâm trí của nhiều người nông dân vốn sống bằng nghề sông nước. Tiếng ngân nga trầm bổng của các câu thơ dễ hòa hợp vào cảnh trời nước bao la và rất gần gũi với thiên nhiên. Người dân Nam Bộ theo ảnh hưởng Bửu Sơn Kỳ Hương có lối sống rất đặc trưng: Ăn mặc giản dị (áo bà ba nâu/đen), tóc để dài búi sau gáy (tóc nhung), nói năng bộc trực, trọng lời hứa. Sự dung hợp giữa thờ cúng Tổ tiên và thờ Phật được đẩy lên một tầm cao mới, khiến đạo pháp trở nên gần gũi trong từng nếp nhà. Vì không có hệ thống giáo hội tập quyền chặt chẽ, người dân tự ý thức về việc tu tập của mình, từ đó hình thành nên tính cách độc lập, tự cường.
Có thể nói, với những đặc điểm cơ bản là tính chất nhân đạo, tính sáng tạo, tính dân tộc, tính địa phương... đã làm cho đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trở thành một tôn giáo riêng ở đồng bằng sông Cửu Long và chỉ có trong cộng đồng tộc người Việt. Những đặc điểm ấy, cơ bản hội tụ được tinh hoa truyền thống dân tộc, làm cho Bửu Sơn Kỳ Hương trở thành riêng biệt đặc thù. Do đó, đã làm cho Bửu Sơn Kỳ Hương vừa mang nét chung của Phật giáo lại vừa là một tôn giáo riêng biệt và hiện diện bằng một sức sống bền bỉ, trở thành nếp sống tôn giáo đặc thù của cư dân Việt ở miền Tây Nam Bộ.
3. Đóng góp của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đối với đời sống và văn hóa của người dân Nam Bộ
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đóng vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người dân vùng Nam Bộ. Những giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương đã tạo nên sự linh thiêng huyền ảo cho vùng đất này. Với sự “mầu nhiệm” của dãy Thất Sơn được lưu truyền trong dân gian đã trở thành thế mạnh về du lịch văn hóa, tâm linh hiện nay ở tỉnh An Giang, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn miền núi.
Ông Đoàn Minh Huyên ngoài việc là một tu sĩ tinh thông y thuật, có tài trị bệnh, còn có công lớn trong việc vận động, hướng dẫn người dân khai hoang, lập ấp. Trong quá trình khai đạo ông đã thu nhận nhiều đệ tử, trong đó có cả những nhân vật lịch sử nổi tiếng. Khi mối đạo hình thành, nhằm tạo điều kiện để bá tánh yên tâm thực hiện giáo lý, Đức Phật Thầy đã giao cho các đại đệ tử thân tín dẫn dân đi khai hoang, lập ấp. Bửu Sơn Kỳ Hương thúc đẩy sự nhập thế. Các trại ruộng do Phật Thầy Tây An và các đệ tử lập ra, thực chất là những mô hình kinh tế nông nghiệp sơ khai. Bửu Sơn Kỳ Hương quan niệm tu là lao động, tín đồ vừa niệm Phật vừa khai hoang, biến vùng đầm lầy thành ruộng lúa bát ngát. Những trại ruộng này không chỉ là nơi tu hành mà còn là những đơn vị phòng thủ, giúp người dân tự vệ trước thú dữ và giặc cướp. Cụ thể, Quản cơ Trần Văn Thành đã khai hoang vùng Láng Linh, vùng Cái Dầu do ông đạo Xuyến phụ trách, vùng Đồng Tháp Mười do ông đạo Ngoạn dẫn đầu, còn ông Đình Tây là người trông coi vùng núi Két… Đi đến đâu, các đại đệ tử của ông đều hướng dẫn người dân lập trại ruộng, trại rẫy, trại cưa để ổn định cuộc sống, thực hiện triết lý “học Phật, tu Nhân”. Một số di tích trại ruộng, trại rẫy hiện nay vẫn còn tồn tại, được người dân tôn thờ, hương khói quanh năm, như: Phước Điền tự (chùa Trại Ruộng), đình Thới Sơn, Bửu Hương các… Từ các cuộc khẩn hoang của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, nhiều xóm làng trù phú đã mọc lên, điển hình là hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn (nay thuộc xã Thới Sơn, Tịnh Biên, An Giang).
Ông Đoàn Minh Huyên là người yêu nước và cũng là người sáng lập nên triết lý hành đạo rất gần gũi với đời sống. Bửu Sơn Kỳ Hương lấy gốc từ đạo Phật, song lại không “lánh đời” mà có xu hướng “nhập thế”, thể hiện vai trò của người dân đối với xã hội. Những giáo lý của ông đã định hướng cho tín đồ sống có trách nhiệm, sẵn sàng đứng lên chống ngoại xâm khi đất nước lâm cơn nguy biến. Sau một thời gian truyền đạo, triều đình nghi ông nổi loạn nên ông đã bị Tổng đốc An Giang bắt giam, sau đó ông được thả ra nhưng bắt buộc ông phải tu tại Tây An cổ tự để triều đình dễ bề kiểm soát những hoạt động của ông. Sau bảy năm giảng đạo, năm 1856, Phật Thầy Tây An viên tịch tại Tây An cổ tự ở núi Sam (An Giang) và phần mộ ông nay còn ở đó.
28 năm sau khi ông mất (1884), triều đình Huế đầu hàng thực dân Pháp xâm lược, nhưng phong trào kháng Pháp trong Nhân dân vẫn bùng lên mạnh mẽ ở Nam Bộ. Hầu hết các tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương đều tham gia vào cuộc kháng chiến. Trong số những tín đồ đã có những người là lãnh tụ của cuộc kháng chiến như: Trương Công Định (tức Bình Tây Đại nguyên soái) năm 1862; Nguyễn Trung Trực - người anh hùng “Hỏa hồng Nhật Tảo” (năm 1861), đã đốt cháy tàu chiến Espérance của quân xâm lược Pháp tại sông Nhật Tảo; Trần Văn Thành (năm 1867) khởi nghĩa tại vùng Láng Linh, thuộc tỉnh An Giang… Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ, Quản cơ Thành đã biến trại ruộng Láng Linh thành nơi tập luyện nghĩa quân. Ông lập nên căn cứ Bảy Thưa, đứng ra tập hợp nghĩa quân, đa số là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, thực hiện lý tưởng đuổi giặc ngoại xâm cứu quê hương. Cuộc khởi nghĩa của Đức cố Quản kéo dài 6 năm ròng rã, huy động nhiều sức người, sức của trên quy mô rộng lớn và liên tục, có thời điểm lực lượng nghĩa quân lên đến 1.200 người. Những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đã nêu cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì đất nước, nhưng do có bọn tay sai giúp đỡ thực dân Pháp đã đàn áp tàn bạo, vì vậy cuộc khởi nghĩa thất bại. Sau khi phong trào kháng chiến chống Pháp thất bại, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lại tiếp tục hoạt động dưới hình thức giảng đạo trong nông dân vùng An Giang. Trong số những ông đạo có: Đức Phật Trùm năm 1868, tự nhận là hậu thân của Phật Thầy Tây An giáng thế, cho sử dụng lòng phái màu đỏ có dấu Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông Phật Trùm là người Khmer, đã truyền đạo sang cả đất Campuchia. Thực dân buộc tội ông làm loạn và bắt đi đày nhưng sau đó thả về. Ông mất tại núi Tà Lơn, năm 1875.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Có thể nói, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là một sự đơn giản hóa và bình dân hóa đạo Phật, đưa đạo Phật và các truyền thống dân tộc đi vào cuộc đời. Tín đồ chỉ cần niệm Phật và tu tại gia mà không cần ly thân xuất gia và cũng không dùng những hình thức cúng tế cầu kỳ. Tứ ân cũng có thể xem là nét tinh túy của văn hóa Việt Nam vốn trọng đạo nghĩa và đã biết kế thừa tinh hoa trong truyền thống của người Việt như: lòng yêu nước, tình thương nhân loại, tinh thần đoàn kết, coi trọng thờ cúng Tổ tiên, tri ân các Anh hùng liệt sĩ, cần cù lao động. Đây cũng là sự kế thừa có tính sáng tạo cho phù hợp với con người, thời đại và vùng đất nơi đây.
Tiếp nối truyền thống, những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương ngày nay luôn hòa mình vào công cuộc xây dựng quê hương. Thực hiện giáo lý của Phật Thầy, luôn tích cực xây dựng cuộc sống mới, hướng đến điều thiện, thực hiện tốt trách nhiệm người công dân đối với xã hội. Đồng thời, tránh xa mê tín dị đoan, thể hiện tinh thần đoàn kết trong cộng đồng tôn giáo của địa phương. Theo lời dạy của các bậc tiền hiền, các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương các tỉnh Nam Bộ ngày nay không chỉ chăm lo làm ăn và tu hành, đi theo chân truyền của Đức Phật Thầy giáo hóa mà còn nhiệt tình tham gia vào các hoạt động xã hội. Cụ thể, nhiều năm qua, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đã tích cực tham gia các cuộc vận động lớn do Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát động như: phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh phát triển sản xuất - kinh doanh, xóa đói giảm nghèo và làm giàu, xây dựng nông thôn mới; Tích cực tham gia hoạt động từ thiện xã hội giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, những người có hoàn cảnh khó khăn, các vùng thiên tai lũ lụt; Hỗ trợ học sinh nghèo hiếu học; Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phòng chống các tệ nạn xã hội, tội phạm… Bà con đạo Bửu Sơn Kỳ Hương khắp các tỉnh Nam Bộ luôn nêu tinh thần trách nhiệm của mình trong mọi công việc, sống “tốt đời - đẹp đạo” góp phần cùng các tôn giáo khác đưa kinh tế - xã hội đất nước ngày càng phát triển trong lòng dân tộc Việt Nam.
4. Kết luận
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không chỉ đơn thuần là một hiện tượng tôn giáo nội sinh, mà còn là hệ giá trị tinh thần cốt lõi định hình nên bản sắc con người Nam Bộ trong giai đoạn khẩn hoang và giữ nước. Trong bối cảnh lịch sử xã hội Nam Bộ lúc bấy giờ, sự ra đời của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đã đáp ứng được nhu cầu tâm linh của một bộ phận khá đông đảo người dân. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đã làm tròn vai trò tập hợp Nhân dân, giảng dạy cho họ những giá trị đạo đức truyền thống, đưa họ trở về với dân tộc, vì vậy, Bửu Sơn Kỳ Hương có ảnh hưởng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ đến tận ngày nay./.
Tài liệu tham khảo
1. Sơn Nam (1992), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb. Văn nghệ TP.HCM.
2. Nguyễn Văn Hầu (1972), Sấm truyền Đức Phật Thầy Tây An, Nxb. Hương Sen.
3. Trần Hồng Liên (2004), Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương: Một nét đặc thù của văn hóa Nam Bộ, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo.
4. Nguyễn Văn Hầu (1973), Đức Cố Quản Trần Văn Thành: Thủ lĩnh phong trào kháng Pháp Bảy Thưa, Nxb. Hương Sen.
5. Hội Khoa học Lịch sử An Giang (2005), Khởi nghĩa Bảy Thưa và các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX tại An Giang, Nxb. Chính trị Quốc gia.
6. Nguyễn Chánh Sắt (1925), Việt Nam thời bấy giờ, (Tư liệu cổ về các phong trào tôn giáo vùng Thất Sơn).
7. Vương Kim (1966), Bửu Sơn Kỳ Hương, Nxb. Long Hoa, Sài Gòn