Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Gỡ nút thắt cho công tác bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc

Quốc Hoàn - 12:13, 05/08/2026

(DTTG) - Các chuyên gia và nhà quản lý cảnh báo: “điểm nghẽn” lớn nhất trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc không nằm ở chính sách, mà ở khâu thực thi. Dù chủ trương có cởi mở đến đâu, nhưng nếu cấp cơ sở vẫn giữ tư duy quản lý cũ, sợ trách nhiệm, nặng tính “xin -cho” và đặt sự an toàn thủ tục lên trên hiệu quả sáng tạo, thì những chính sách đột phá cho văn hóa dân tộc rất dễ bị “bóp nghẹt” .

Du khách nước ngoài tham gia trải nghiệm thực hành đồ xôi theo phương thức truyền thống của dồng bào dân tộc Mường (Thanh Hóa).
Du khách nước ngoài tham gia trải nghiệm thực hành đồ xôi theo phương thức truyền thống của dồng bào dân tộc Mường (Thanh Hóa).

Theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, đột phá của Nghị quyết 28/2026/QH16 không nằm ở các giải pháp đơn lẻ, mà ở tầm nhìn kiến tạo một hệ sinh thái chính sách đồng bộ cho văn hóa Việt Nam. Trước đây, việc bảo tồn di sản thường bị xé lẻ theo tư duy “mảnh ghép”, nay Nghị quyết tiếp cận toàn diện từ nguồn lực đất đai, thuế, dòng vốn đầu tư cho đến mạch sống của di sản, chế độ cho nghệ nhân, nghệ sĩ và hạ tầng văn hóa số. Đây chính là bệ đỡ vững chắc để khơi thông dòng chảy di sản, giúp văn hóa dân tộc bứt phá trong kỷ nguyên số.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn cho biết thêm, điểm đáng chú ý, việc Nhà nước quy định đảm bảo kinh phí cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước có ý nghĩa rất lớn. Khi trình dự thảo Nghị quyết, Chính phủ cũng xác định đây là một trong những chính sách quan trọng để tạo nguồn lực ổn định hơn cho văn hóa. Nhưng tôi cho rằng điều quan trọng hơn con số 2% đó là tư duy: đầu tư cho văn hóa không phải khoản chi sau khi chúng ta đã giải quyết xong những việc khác, mà là đầu tư trực tiếp cho năng lực phát triển của đất nước.

Song song với đó, các cơ chế như Quỹ Văn hóa nghệ thuật, ưu đãi công nghiệp văn hóa thì điểm nhấn đô thị di sản đánh dấu bước chuyển mình mang tính lịch sử: Từ tư duy “Nhà nước bao cấp làm văn hóa” sang khơi thông nguồn lực tổng hợp từ Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp và cộng đồng. Để mạch nguồn di sản bứt phá, Chính phủ đã ban hành kế hoạch hành động cùng các nghị định cụ thể hóa về nghệ thuật biểu diễn, hạ tầng văn hóa số, đô thị di sản và đặc biệt là văn hóa dân tộc thiểu số. Đây là nền tảng vững chắc để chuyển hóa di sản thành nguồn lực nội sinh, thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển bền vững.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn đưa ra ví dụ, Quỹ văn hóa, nghệ thuật được thiết kế theo hướng có thể chấp nhận rủi ro. Nhưng sáng tạo vốn dĩ không phải dự án nào cũng thành công. Nếu một dự án không thành công về thị trường lập tức bị xem là làm thất thoát ngân sách thì sẽ không ai dám đầu tư cho những ý tưởng mới. Ngược lại, nói “chấp nhận rủi ro” mà không có tiêu chí minh bạch thì cũng có thể trở thành kẽ hở cho lợi ích nhóm.

Sau Nghị quyết 28, mạch sống di sản có một năng lực quản trị mới: Dám trao quyền sáng tạo nhưng phải đo lường hiệu quả. Chấp nhận thử nghiệm di sản đương đại trong sự minh bạch. Tạo không gian thông thoáng cho nghệ nhân, cộng đồng bứt phá nhưng luôn gắn liền với trách nhiệm giải trình nhằm bảo tồn nguyên vẹn giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. 

Du khách nước ngoài tập làm nghề dệt thổ cẩm
Du khách nước ngoài tập làm nghề dệt thổ cẩm

“Tôi vẫn nghĩ rằng một chính sách văn hóa chỉ thực sự thành công khi người nghệ sĩ cảm thấy mình có thêm cơ hội sáng tạo, nghệ nhân có thêm người kế tục, doanh nghiệp thấy đáng để đầu tư, cộng đồng được hưởng lợi và người dân có thêm những sản phẩm văn hóa tốt. Nếu những điều ấy chưa xảy ra thì dù văn bản rất tiến bộ, chúng ta vẫn chưa thể nói điểm nghẽn đã được tháo gỡ”, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn nói.

Nghị quyết 28 mở đường cho dòng vốn văn hóa khi quy định chi tối thiểu 2% ngân sách, cùng cơ chế ưu đãi thuế và thí điểm Quỹ Văn hóa nghệ thuật chấp nhận rủi ro. Tuy nhiên, để nguồn lực này thực sự thấm sâu vào bản làng, nuôi dưỡng sức sáng tạo của nghệ nhân và làm sống dậy các di sản dân tộc thiểu số, hệ thống quản trị cần một cơ chế công khai, hậu kiểm sắc bén. Giám sát minh bạch là vũ khí cốt lõi để dòng vốn chảy đúng vào con người, sản phẩm văn hóa thay vì bị “đông cứng” trong các công trình bê tông hay bị lợi dụng danh nghĩa đầu tư di sản.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh đây là bài toàn quyết định sinh mệnh chính sách. Tăng đầu tư là cần thiết, nhưng dòng vốn không tự động làm giầu thêm hồn cốt di sản. Nếu nguồn lực cứ đổ vào xây dựng nhà văn hóa bê tông xơ cứng, các thiết chế hoành tráng mà bỏ quên nghệ nhân, lễ hội và không gian sáng tạo của bản làng, chúng ta chỉ có thêm những “vỏ bọc” vô hồn. Hồn cốt văn hóa vùng cao, mạch sống tâm linh và bản sắc độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số chỉ thực sự hồi sinh khi nguồn lực chạm đến từng con người, từng sản phẩm văn hóa sống động cơ sở.

Vì vậy, phải thay đổi cách lập ngân sách văn hóa vùng đồng bào số. PGS.TS. Bùi Hoài Sơn khẳng định cần phân định rõ ba dòng nguồn lực: hạ tầng, con người và sản phẩm sáng tạo để giữ thế cân bằng, không để các công trình bê tông chiếm trọn không gian đầu tư. Đồng thời, tư duy quản lý cần chuyển từ cấp vốn đầu vào sang đặt hàng theo kết quả. Một dự án văn hóa bản làng không thể chỉ báo cáo số tiền đã chi, mà phải chứng minh: có bao nhiêu người dân được thụ hưởng, bao nhiêu làn điệu di sản được cứu sống, nghệ nhân trẻ nào được phát hiện và giá trị nội sinh ấy có tự sống vững vàng khi ngân sách khép lại hay không.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn cho rằng: Đối với Quỹ văn hóa, nghệ thuật, theo tôi cần một cơ chế quản trị tương đối độc lập, chuyên nghiệp, có hội đồng gồm những người hiểu nghệ thuật, thị trường, tài chính và công nghệ. Việc lựa chọn dự án phải thông qua tiêu chí công khai; kết quả xét chọn, số tiền đầu tư, mục tiêu của dự án và kết quả sau đầu tư cũng cần được công khai ở mức phù hợp.

Cốt lõi là phải xây dựng hệ thống dữ liệu số công khai về dòng vốn văn hóa vùng cao: bản làng nào nhận đầu tư, nguồn kinh phí nuôi dưỡng di sản nào được phân bổ và hiệu quả thực tế.