Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính chủ trì cuộc họp nghe báo cáo về việc hoàn thiện Hồ sơ dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)1. Thực trạng thi hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo
Qua hơn 08 năm thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được nhiều kết quả tiến bộ, tích cực, tuy nhiên, việc thi hành Luật vẫn còn gặp một số hạn chế, khó khăn, cụ thể:
Một là, chưa có quy định về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Hiện nay, Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo mới chỉ dừng lại ở quy định thực hiện thủ tục hành chính (thay đổi hình thức thực hiện từ trực tiếp sang trực tuyến hoặc kết hợp hình thức trực tiếp với hình thức trực tuyến) đối với hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ. Đối với hoạt động tín ngưỡng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP không có quy định như đối với hoạt động tôn giáo. Bên cạnh đó, Luật chưa có quy định về ràng buộc trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng nói chung cũng như trách nhiệm pháp lý trong hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ.
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ là vấn đề mới mà còn là thực tế tất yếu trong kỷ nguyên số, đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, tạo hành lang pháp lý vững chắc vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thuần túy có thể hoạt động thuận lợi, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, đồng thời ngăn chặn các hành vi lợi dụng, mượn danh nghĩa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, tuyên truyền mê tín, dị đoan, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cần thiết phải quy định đầy đủ, toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, không chỉ dừng lại ở việc thực hiện thủ tục hành chính mà còn là việc ghi nhận chính thức trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quyền của cá nhân, tổ chức được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; Quy định các nguyên tắc mà cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng phải chấp hành và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông trong việc ngăn chặn các nội dung vi phạm về tín ngưỡng, tôn giáo.
Hai là, một số quy định không còn phù hợp khi đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp
Hiện nay, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp dẫn đến một số quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến thẩm quyền của UBND cấp huyện không còn phù hợp. Tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo sau sắp xếp, sáp nhập tổ chức bộ máy đã có sự thay đổi rất lớn. Ở Trung ương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập trên cơ sở Ủy ban Dân tộc, đồng thời tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ. Ở địa phương, cấp tỉnh là Sở Dân tộc và Tôn giáo, một số nơi vẫn sắp xếp ở Sở Nội vụ (6 tỉnh, thành phố: Đồng tháp, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Huế, Hưng Yên, Ninh Bình); ở cấp xã do Phòng Văn hóa xã hội thực hiện. Vì vậy, cần thiết phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 để thực hiện phân quyền, phân cấp cho phù hợp.
Ba là, chưa có quy định biện pháp quản lý nhà nước đối với một số hành vi vi phạm trong hoạt động tôn giáo
Thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thời gian qua cũng gặp khó khăn, vướng mắc do một số vấn đề chưa có quy định của pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa rõ ràng như về điều kiện, thẩm quyền thu hồi đăng ký đối với các điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung, thu hồi giấy chứng nhận đối với tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo khi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc theo đề nghị của người đại diện tổ chức; Một số chức sắc, chức việc cố tình vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhưng chưa có quy định xử lý,…
Bốn là, đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
Trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, theo đó có 56 thủ tục hành chính ở 03 cấp (cấp trung ương có 23 thủ tục; Cấp tỉnh có 24 thủ tục và cấp xã có 09 thủ tục). Vì vậy, khi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, quy định về trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cần được điều chỉnh cho phù hợp, không quy định về trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của UBND cấp huyện. Bên cạnh đó, trong thành phần hồ sơ các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay còn nhiều giấy tờ có liên quan, trong đó có phiếu lý lịch tư pháp của nhân sự dự kiến làm người đại diện của nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, người dự kiến lãnh đạo các tổ chức;... Theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay vẫn còn thực hiện theo phương thức truyền thống (thực hiện tiếp nhận, quản lý và lưu trữ hồ sơ giấy). Việc lưu trữ hồ sơ giấy cũng gây khó khăn trong việc tổng hợp, báo cáo số liệu về tín ngưỡng, tôn giáo, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước.
2. Quan điểm chỉ đạo và những nội dung cơ bản của các chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
2.1. Quan điểm chỉ đạo
Trên cơ sở thực trạng thi hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, giải pháp thích hợp cần ưu tiên lựa chọn trong giai đoạn hiện nay là khẩn trương xây dựng dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với mục đích khắc phục tối đa những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thời gian qua, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác này trên thực tế, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội. Với cơ sở thực tiễn dựa trên quá trình tổng kết tình hình thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong hơn 08 năm qua, căn cứ những định hướng lớn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, việc xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dựa trên những quan điểm chỉ đạo sau:
Một là, tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Hai là, đáp ứng nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo ngày càng cao của công dân; Đa dạng hóa hình thức hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo gắn với bối cảnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử tiến tới Chính phủ số.
Ba là, bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; Tính thống nhất với các luật, nghị quyết có liên quan, nhất là các luật, nghị quyết được Quốc hội ban hành trong thời gian vừa qua; Đồng thời, đáp ứng yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng luật và kỹ thuật lập pháp hiện nay; Bảo đảm tính khả thi của các chính sách Luật trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam; Tham khảo, nghiên cứu học hỏi có chọn lọc các kinh nghiệm phù hợp của pháp luật nước ngoài về tín ngưỡng, tôn giáo.
Bốn là, tuân thủ đúng quy trình xây dựng chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP) và các chỉ đạo của Chính phủ (Nghị quyết số 69/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 3/2025; Nghị quyết số 158/NQ-CP ngày 03/6/2025 của Chính phủ Nghị quyết chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 5/2025).
2.2. Những nội dung cơ bản của các chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
a) Chính sách 1. Xác lập nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Để tạo cơ sở pháp lý trong việc đa dạng hóa phương thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, kết hợp linh hoạt giữa phương thức truyền thống và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, góp phần thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; Tạo môi trường minh bạch, công khai, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng nhanh chóng, kịp thời, chính sách ghi nhận quyền của cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; Các nguyên tắc mà cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng phải chấp hành; Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong việc ngăn chặn các nội dung vi phạm về tín ngưỡng, tôn giáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
b) Chính sách 2. Phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
Để các cấp chính quyền được chủ động, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ, quyền hạn; Xác định rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm trước các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; Góp phần bảo đảm quyền của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách quy định cụ thể việc phân quyền, phân cấp cho các cơ quan nhà nước, bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; Bổ sung thẩm quyền đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng nhằm mở rộng việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng cho các tổ chức, cá nhân khác (như cơ sở tư gia, cơ sở do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có hoạt động tín ngưỡng, trừ hoạt động thờ cúng Tổ tiên và một số hoạt động khác); Bổ sung các nội dung liên quan đến đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc tại tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (theo đó nếu bổ nhiệm, suy cử chức việc sẽ đăng ký trước; Nếu bầu cử chức việc sẽ thực hiện đăng ký sau khi có kết quả); Bổ sung chủ thể được mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo là tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; Bổ sung quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được mời người Việt Nam làm chức sắc cho tổ chức tôn giáo nước ngoài giảng đạo cho tổ chức; Bổ sung chủ thể được thực hiện hoạt động xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm, thực hiện hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo là tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; Bổ sung quy định điều kiện để được đăng ký nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; …
c) Chính sách 3. Bổ sung biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
Bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, bảo đảm quy định của pháp luật không chỉ dừng lại ở việc phòng ngừa, cảnh báo vi phạm mà còn bảo đảm việc phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, chính sách bổ sung các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm việc bổ sung biện pháp thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của công dân Việt Nam; Bổ sung biện pháp thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký hoạt động tôn giáo; Bổ sung biện pháp thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và bổ sung biện pháp đình chỉ chức vụ của chức việc.
d) Chính sách 4. Đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
Trên cơ sở kế thừa các thủ tục hành chính theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (không làm phát sinh thủ tục hành chính mới), theo đó, dự kiến 04 thủ tục hành chính theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (đang là đề nghị) gồm: (i) Đề nghị tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở một xã; (ii) Đề nghị tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã trong một tỉnh; (iii) Đề nghị giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở một xã; (iv) Đề nghị giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã trong một tỉnh sẽ đơn giản hoá theo hướng cho đăng ký (thay vì đề nghị). Rà soát, bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ (phiếu lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam và người nước ngoài có thời gian cư trú ở Việt Nam trên 06 tháng liên tục và nội dung này đã được bỏ khi xây dựng Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo); Bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, thời hạn thực hiện các thủ tục trong Luật theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần xây dựng Chính phủ số, hướng tới phát triển một nền quản trị số hiện đại, minh bạch, hiệu quả, gắn với việc bảo đảm an toàn thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể tôn giáo.
3. Kết luận
Trên cơ sở các nội dung chính sách nêu trên, để bảo đảm tiến độ trình dự án Luật theo quy định, thời gian qua, đồng thời việc với xây dựng, hoàn thiện, trình Chính phủ hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã và đang khẩn trương xây dựng hồ sơ dự án Luật này. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết thông qua các chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Bộ Dân tộc và tôn giáo tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức nghiên cứu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, báo cáo các cơ quan có thẩm quyền trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI (tháng 4/2026).
* Ban Tôn giáo Chính phủ
Tài liệu tham khảo
1. Hiến pháp năm 2013.
2. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14.
3. Nghị quyết số 105/2025/QH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026.
4. Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
5. Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
6. Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026.
7. Tờ trình số 3254/TTr-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
8. Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.